Đông Đô Chà Bàn
by Trần Quang Thức
1 reviews

Review sách Đông Đô Chà Bàn

Trần Thông đã review

“Truyện kỳ tình sử HUYỀN TRÂN,

Sáng Đông Đô, rạng Chà Bàn trước đây.

Vần thơ trung thực trình bày,

Đậm đà tình nghĩa, cảnh say mến người…”

Truyện thơ ngày nay đã không còn được ưa chuộng và thịnh hành như những thế kỷ trước nhưng ở tác phẩm “Đông Đô chà bàn” vẫn mang lại cảm giác đặc biệt. 9500 câu thơ lục bát trải dài gần 400 trang sách làm cho chúng ta như thấy rõ về cuộc đời và đức hạnh của công chúa Huyền Trân – một vị công chúa tài sắc vẹn toàn của lịch sử Việt Nam. Những điển cố được đưa vào rất suôn mượt và tài tình, khiến cho chúng ta cảm giác mọi thứ không quá cũ so với độc giả trẻ hiện nay.

Đọc “Đông Đô Chà Bàn”, chúng ta có thể thấy chỉ vài câu thơ thôi nhưng dung mạo của Huyền Trân công chúa hiện ra rất đẹp, rất yêu kiều:

“Ửng hồng đôi má trái đào,

Cặp đôi đỏ mọng, hồng hào khuôn trăng.

Tươi cười để lộ hàm răng,

Đẹp như ngô nếp, trắng răng nõn nà.

Giọng oanh trìu mến thiết tha…”

Ngoài ra, tuy là phận nữ tử ở thời phong kiến và sống trong cảnh nhung lụa nhưng công chúa luôn có sở thích của kẻ sĩ là đọc sách:

“Án thư chồng đống sách dày,

Công thư, mê mải đêm ngày. Biếng ăn.

Thân vàng vóc ngọc hao dần

Say mê mệt mỏi tâm thần nhược suy.”

Cách dùng điển cố, tích cổ của tác giả Trần Quang Thức thật sự rất hay. Đơn cử như khi nhắc đến Thời Tam quốc có bà Ngô Quốc Thái là mẹ kế của Ngô vương Tôn Quyền. Ông thờ mẹ kế như mẹ đẻ, nhất nhất vâng lời, dù là việc quốc gia hay việc trong nhà, bà dì bắt bãi bỏ một việc nào đó thì Ngô vương không dám không tuân theo. Tác giả đã dùng điển cố này để nói đến đức tính hiếu thảo của công chúa Huyền Trân cũng như đế vương hiện tại với mẹ kế là Tuyên Từ Thái hậu:

“Từ khi Mẫu hậu qua đời,

Ở cùng kế mẫu, cũng nòi thịt da.

Bà dì nghiêm khắc hoàng gia

Vương huynh cũng phải kính hòa hiếu thân.

Sớm hôm phụng dưỡng ân cần,

Như thời Tam quốc, Ngô quân thờ dì.”

Lịch sử hào hùng của dân tộc cũng được miêu tả hết sức oai hùng, dù cho đó là dùng nhu chế cương hay dùng cương đả nhu thì mọi binh pháp áp dụng đều thành công ở các trận chiến:

“Kể này uyển chuyển biết bao,

Nhu cương chế giải từ trào Ngô vương.

Trải ĐINH, LÊ, LÝ triều đường,

Kế thừa nối tiếp đến vương triều nhà.

Tuy là kế sách đề ra,

Bao đời bổ khuyết điều hòa hảo tu.

Song đều áp dụng ôn nhu,

Nhu mà không nhược, giữ tư thế cường.

NGÔ QUYỀN nhu với Hán vương,

HOẰNG THÁO bị giết, xác buông Bạch Đằng..

LÊ HOÀN nhu với Tống bang,

Chém HẦU NHÂN BẢO, BIỆN, HÙNG Chi Lăng.

Một thời cương cũng chống căng,

THƯỜNG KIỆT, TÔN ĐẢN đánh sang phủ đầu.”

Ngoài ra, tác giả giới thiệu rất nhiều các thuật ngữ trong Phật pháp khiến tôi cảm thấy rất thú vị vì tôi là một người rất thích đọc về những điều Phật dạy và giáo lý của Phật. Chẳng hạn như nhập định là khái niệm chỉ về việc thiền định vào trạng thái lìa khỏi ngoại vật. Huệ hương nghĩa là cúng Phật cần chú ý ba điều: 1 - Văn huệ: Nghe lời chư Phật; 2 – Tư huệ: suy xét những lời của chư Phật; 3 – Tu huệ: quyết tâm thực hành những điều mình tin. Chân như là nguyên lý tự có, vĩnh cửu, không sinh không diệt , đây ý chỉ của Phật. Niết bàn nghĩa là ra khỏi rừng mê, ra khỏi luân hồi sinh tử, trạng thái nhập bản thể sáng suốt thanh tịnh đầy đủ. Còn thế thiền nghĩa là yên lặng suy tưởng.

Hơn thế nữa, những thuật ngữ chỉ có trong cung đình cũng được giới thiệu để độc giả hiểu thêm về lịch sử nước nhà. Đơn cử như Ngũ hình là 5 bậc trừng phạt những người phạm tội thời xưa bao gồm: Xuy, Trượng, Đồ, Lưu, Tử. Trong đó, Xuy hình là đánh bằng roi từ 10 đến 50 roi; Trượng hình là đánh bằng gậy (riêng đàn ông) từ 60 đến 100 trượng; Đồ hình là đầy khổ dịch bao gồm ba bậc là Dịch đình, Trượng phường binh, Thực điền binh; Lưu hình là đày phát vãng cũng bao gồm ba bậc là Lưu cận châu, Lưu ngoại châu, Lưu viễn châu; Tử hình cũng có ba bậc là Giảo (thắt cổ), Trảm (chém đầu bêu chợ) và Lăng trì (chặt tay chân, xẻo thịt).

“Đông Đô Chà Bàn” thực sự là một tài liệu quý báu có tính lịch sử sâu sắc, rất thú vị cho các bạn đọc trẻ muốn tìm hiểu về sử nhà cũng như các sử gia muốn tìm tài liệu nghiên cứu cho công trình của mình. Những ghi chú tỉ mỉ cùng những thuật ngữ đa dạng dùng trong các câu thơ là một vốn từ ngữ phong phú giúp độc giả trau dồi khả năng ngôn ngữ của chính mình. Những lời chân thành của tác giả gửi gắm ở cuối quyển sách với mong muốn mọi người hãy đón nhận tác phẩm cũng như phục hưng lại văn chương cổ điển – nền văn học của Việt Nam ta:

“Anh thư vang bóng một thời,

Muôn thu còn vọng lại lời sử ca.

Tường trình số lượng sách ra,

Kính mong bạn đọc hợp hòa cảm thông.”