Bắc hành lược ký
by Lê Quýnh
2 reviews

Review sách Bắc hành lược ký

Nguyen Duong Hieu đã review

Ba mươi năm cuối thế kỷ XVIII, tức là từ khi khởi nghĩa Tây Sơn bắt đầu vào năm 1771 ở Đàng Trong cho tới khi Gia Long thống nhất đất nước và lên ngôi năm 1802 ở Phú Xuân, là một giai đoạn lịch sử cực kỳ phức tạp, rối rắm trong sử Việt. Trước tiên, đây là giai đoạn có cả nội chiến và chống ngoại xâm, với chiến trường diễn ra trên toàn quốc, từ phía Bắc cho tới phía Nam, thậm chí còn ra tới … hải đảo (những lần Nguyễn Huệ “rượt” Nguyễn Ánh ra tới tận Thổ Chu, Phú Quốc!). Hơn thế nữa, đây là giai đoạn có nhiều “bên liên quan” nhất, thắng thua vinh nhục qua lại, đan xen và thay đổi theo kiểu “cá ăn kiến, kiến ăn cá” nhanh như chong chóng, khiến cho sân khấu chính trị Đại Việt / An Nam chứng kiến nhiều màn bi hài không thể tả! Theo thời gian, các giai đoạn chính bao gồm:

- Đầu tiên, khi Tây Sơn mới nổi, những chiến thắng liên tục của họ từ Nam ra Bắc giúp hình thành thế tay ba Trịnh-Tây Sơn-Nguyễn (1771-1786). Trong giai đoạn này, Tây Sơn vẫn còn thống nhất dưới quyền chỉ huy của một mình Nguyễn Nhạc.

- Tới năm 1786, Tây Sơn ra Bắc diệt hoàn toàn họ Trịnh, đồng thời phe chúa Nguyễn bị đánh cho tan tác nhiều lần, chỉ còn tàn quân của Nguyễn Ánh. Trong giai đoạn cực thịnh của Tây Sơn (1786-1792), đại để nước ta có tới 4 phe: dư đảng nhà Lê, Tây Sơn của Quang Trung Nguyễn Huệ, Tây Sơn của Thái Đức Nguyễn Nhạc, và Nguyễn Ánh.

- Năm 1792, sau cái chết đột ngột của Nguyễn Huệ, con trai Nguyễn Quang Toản mới 9 tuổi nối ngôi (vua Cảnh Thịnh). Mười năm cuối cùng này (1792-1802) thì về cơ bản chỉ còn hai phe đánh nhau: Tây Sơn của vua Cảnh Thịnh trên đà suy yếu, và phe Nguyễn Ánh càng lúc càng mạnh (phe Tây Sơn Thái Đức đã bị chính Cảnh Thịnh diệt, phe dư đảng nhà Lê thì…chạy tuốt sang Trung Hoa sau trận Kỷ Dậu 1789!). Kết thúc hơn ba thập kỷ nội chiến là chiến thắng của Nguyễn Ánh, ông lên ngôi vua, trở thành vua Gia Long (Nguyễn Thế Tổ), mở đầu cho nhà Nguyễn với hơn 140 năm cai trị.

Cuốn sách này có bối cảnh chính trong thời kỳ vô vàn nhiễu loạn đó.

Tác giả, cũng là “nhân vật chính” của Bắc Hành Lược Ký, là ông Lê Quýnh (1750-1805), tước Trường Phái Hầu, người ở Kinh Bắc (Bắc Ninh), một người phò Lê triệt để và kiên trì nhất. Cuộc đời Lê Quýnh nằm trọn vẹn trong giai đoạn ba mươi năm dữ dội nói trên, khiến ông trở thành một trong những nhân chứng của lịch sử, và hồi ký “Bắc Hành Lược Ký” của ông đã là một “tài liệu đầu tay” (primary source) rất quý giá cho việc nghiên cứu lịch sử giai đoạn này.

Vấn đề lớn nhất với Lê Quýnh và cuốn hồi ký này nằm ở chỗ tác giả của nó nằm ở bên thua cuộc!

Nhà Hậu Lê, khởi đi từ Thái Tổ Lê Lợi đến kết thúc ở Mẫn Đế Lê Duy Kỳ (Lê Chiêu Thống) trước sau đã nắm ngôi vương ở Đại Việt / An Nam hơn 360 năm (1428-1789), là triều đại “dài hơi” nhất, tính theo con số thống kê. Tuy nhiên, thực ra thì họ Lê chỉ nắm quyền trong giai đoạn đầu khoảng hơn trăm năm (1428-1533). Sau khi bị nhà Mạc cướp ngôi, vua Lê Trang Tông đã phải nhờ tới Nguyễn Kim mới giành lại được ngôi báu (bắt đầu giai đoạn “Lê trung hưng”), sau đó các vua Lê nhanh chóng trở thành bù nhìn trong tay chúa Trịnh. Thực quyền ở Đàng Ngoài đã thuộc về các chúa Trịnh hơn hai trăm năm, cho đến khi quân Tây Sơn “phù Lê diệt Trịnh” năm 1786. Thế mà do tư tưởng trung quân của Nho giáo, cái triều Lê thoi thóp suốt hơn hai trăm năm ấy, với vị vua cuối cùng là Chiêu Thống Lê Duy Kỳ (1765-1793, làm vua từ 1786 đến Xuân 1789, chưa tới ba năm!!!), vẫn còn khá nhiều người đi theo và tận trung với họ. Lê Quýnh là người tiêu biểu nhất trong số đó.

Về nội dung, ‘Bắc Hành Lược Ký’ của Lê Quýnh là một tập ghi chép về những sự kiện chính trong cuộc đời hoạt động chính trị của tác giả, bắt đầu từ khi ông đưa quân lính (gia binh) về Thăng Long bảo vệ triều đình vua Lê năm 1786, năm mà Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nhận lệnh vua anh Thái Đức Nguyễn Nhạc ra Bắc lần thứ nhất, tiêu diệt họ Trịnh, giương cao lá cờ phò Lê! Từ đó, Lê Quýnh kiên quyết phò vua Lê Chiêu Thống, đóng vai trò quan trọng trong việc liên hệ với nhà Thanh khi họ mượn cớ “hưng diệt kế tuyệt” (giúp vua Lê lấy lại nước từ sự “phản nghịch” của quân Tây Sơn) kéo quân vào An Nam cuối năm 1788, chỉ để nhục nhã rút chạy sau đó chưa đầy hai tháng, khi Quang Trung đại phá quân Thanh vào tết Kỷ Dậu 1789. Bại trận, Lê Quýnh và nhiều người khác đã “tòng vong”, tức là phò vua Chiêu Thống chạy qua Trung Hoa, vừa tỵ nạn vừa mong nhà Thanh (vua Càn Long, người làm vua Thanh suốt 60 năm 1736-1796!) khởi binh phục thù cho họ! Tuy nhiên, việc nhà Thanh sau đó lại “lật mặt” và công nhận chính quyền Tây Sơn, phong vương cho Quang Trung, hy vọng phục thù, và sau đó là hy vọng … xin một vùng đất nho nhỏ ở biên giới Việt Trung làm nơi hương hỏa (như nhà Mạc giữ được một khoảnh Cao Bằng trước đó!) của nhóm nhà Lê dần dần tiêu tan. Từ thân phận kẻ chạy theo, kẻ tỵ nạn, họ trở thành những người tù của nhà Thanh, vì hay đòi hỏi này nọ, và cũng vì nhà Thanh chẳng muốn Tây Sơn – những người đang nắm thế thượng phong vào thời điểm đó – phiền lòng!

Đỉnh điểm của sự “bạc đãi” và “lật mặt” đó là nhà Thanh yêu cầu vua Lê và nhóm tòng vong phải “thế phát, cải phục” – cắt tóc, đổi y phục theo kiểu nhà Thanh để có thể “an tháp” – tức là sống cuộc sống bình thường như một thần dân Trung Hoa. Đa số họ phải chấp nhận điều đó, kể cả vua Lê Chiêu Thống, người được Càn Long phong cho một chức quan tam phẩm (chức “tá lãnh”) để không còn mơ tưởng gì tới việc phục thù hay quay về An Nam! Tuy nhiên, vẫn còn một nhóm, chính xác là 6 người, sau chết 2 còn 4 người, đứng đầu là Lê Quýnh (ba người kia là Lê Trị, Trịnh Hiến và Lý Bỉnh Đạo) kiên quyết không chịu quy thuận trở thành “dân Tàu chính hiệu”, kiên quyết giữ đầu tóc dài và trang phục kiểu An Nam, chỉ xin quay về nước. Lê Quýnh, trong hồi ký, đã kể lại chi tiết những lần ông ta cự tuyệt các yêu cầu, dụ dỗ của nhà Thanh, thậm chí từ những đại quan như Phúc Khang An hay Hòa Thân, về vấn đề “thế phát, cải phục” nêu trên. Câu nói của Lê Quýnh, đại ý “đầu có thể rơi nhưng tóc không thể cắt, da có thể lột song y phục không thể đổi thay” đã đi vào lịch sử, thể hiện sự bất khuất của một người Việt, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không chấp nhận trở thành người Trung Hoa. Tất nhiên, Lê Quýnh và nhóm của ông bị nhà Thanh trừng phạt: hơn mười năm nhốt trong ngục (1789-1800). Họ chỉ được thả ra (nhưng vẫn bị quản thúc!) sau khi vua Càn Long qua đời, vua Gia Khánh chính thức nắm quyền, và quan hệ Thanh – Tây Sơn giai đoạn Gia Khánh – Cảnh Thịnh (1796-1802) không nồng ấm như giai đoạn Càn Long – Quang Trung (1789-1792). Và cũng chỉ sau khi Gia Long hoàn toàn đả bại Tây Sơn, thống nhất Việt Nam, nhóm “tòng vong” trong đó có nhóm Lê Quýnh nói trên mới được cho về nước (1803), mang theo thi hài vua Lê, người đã chết từ năm 1793 tại Trung Hoa! Sau khi đem được thi hài vua Lê về quê hương, Lê Quýnh coi như đã hoàn thành phận sự của một kẻ làm tôi, ông không ra làm quan với triều Nguyễn, về quê sinh sống cho tới khi bị cướp giết năm 1805. Tóm lại, cả cuộc đời Lê Quýnh là vô cùng bi thảm, toàn là thất bại!

Lâu nay, trong chính sử, nhóm nhà Lê – bên thua cuộc não nề trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – thường được mô tả ngắn gọn và dứt khoát bằng cụm từ “cõng rắn cắn gà nhà”, khi họ được xem là rước quân Thanh vào Việt Nam cuối năm 1788 đầu năm 1789, sau đó lại “te te bỏ chạy” theo giặc. Chỉ gần đây, với những tài liệu mới, như cuốn sách này, hay những sách vở văn bản từ văn khố của nhà Thanh, người ta mới có những góc nhìn mới hơn, cảm thông hơn về Lê Chiêu Thống, Lê Quýnh và những người theo họ. “Bắc Hành Lược Ký” (Lê Quýnh) qua bản dịch và khảo chú, bình luận rất chi tiết của Nguyễn Duy Chính – một tác giả Việt kiều chuyên nghiên cứu về sử Việt giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – là một cuốn sách có nhiều thông tin và luận giải sâu sắc. Chẳng hạn, nó góp phần nhìn lại việc đánh giá đơn giản rằng Lê Chiêu Thống và thái hậu chủ động chạy sang Tàu xin nhà Thanh đem quân sang trợ giúp. Thực ra, tuy chiến dịch Kỷ Dậu 1789 chỉ diễn ra trong khoảng hai tháng kể từ khi Tôn Sĩ Nghị “xuất sư” (ra quân) tới lúc ông ta “ban sư” (rút quân, 1 uyển ngữ cho việc tháo chạy “muốn sút quần” của quân đội thiên triều!), đó là kết quả của rất nhiều toan tính liên quan tới ngoại giao, việc “nịnh vua Càn Long”, hay việc thể hiện sĩ diện của nước lớn (thiên triều, hay “tông chủ”) so với nước nhỏ v.v…. Tương tự, những sự việc diễn ra sau đó, từ sự bừng bừng nổi giận đòi kéo “cửu tỉnh binh mã, tứ lộ giáp công” để phục thù, tới việc “ngoại giao sau những cánh cửa hẹp” để công nhận chính quyền Quang Trung ngay trong năm 1789 và chào đón trọng thể phái đoàn chúc thọ của chính quyền này trong lễ bát tuần vua Càn Long năm 1790, đi cùng với những thái độ nước đôi và bạc đãi người đồng minh cũ – nhóm nhà Lê, đứng đầu là Lê Chiêu Thống và Lê Quýnh – cũng cho độc giả những câu chuyện vừa thú vị, giật gân, vừa thấy được nguyên tắc cay đắng của ngoại giao và chính trị quốc tế “không có kẻ thù hay đồng minh vĩnh cửu, mà chỉ có lợi ích vĩnh cửu” được thể hiện rõ ràng và triệt để nhất! Độc giả đọc sách và hiểu thêm phần nào bức tranh lịch sử của đất nước cách đây gần hai trăm năm mươi năm, với những lực lượng đan xen, cạnh tranh nhau một cách vô cùng chằng chịt và rối rắm; hiểu thêm những hệ giá trị của người xưa, nhất là quan niệm về trung, hiếu, tiết, nghĩa với những ví dụ sống động nhất. Việc tiếp cận lịch sử, nhất là ở những giai đoạn phức tạp và còn nhiều đánh giá trái chiều như giai đoạn 1771-1802 này, sẽ trở nên dễ dàng hơn qua những tác phẩm như Bắc Hành Lược Ký.

Đây là một cuốn sách khó đọc. Một là vì bối cảnh và lối viết khá cổ xưa, tác giả Lê Quýnh vừa viết hồi ký vừa chen vào khá nhiều bài thơ, thư từ, ngâm vịnh…đúng theo style của ông cha ta thời phong kiến. Hai là vì người dịch Nguyễn Duy Chính không chỉ dịch mà còn bình, còn khảo cứu, nêu ra những ý kiến riêng của ông, khiến đôi khi độc giả lúng túng không biết đâu là lời tác giả đâu là lời dịch giả (Những đoạn chính văn và những đoạn “bình luận” được in bằng font chữ khác nhau, song size chữ không chênh lệch bao nhiêu, khiến đôi khi độc giả có thể bị nhầm!). Tuy nhiên, đây vẫn là một cuốn sách “dịch và khảo” cẩn thận, nghiêm ngắn, với ‘Lời giới thiệu’ dài tới hơn 30 trang (một điểm cộng!), với những chú giải và phụ lục rõ ràng, thể hiện rõ tâm huyết và công phu của dịch giả và những người làm sách.

Ghi chú thêm: ở Hải Phòng, nay vẫn còn con đường mang tên Lê Quýnh. Hình như cũng chỉ có Hải Phòng có đường Lê Quýnh mà thôi. Cũng lạ!



Review khác về sách này 1
#Review #Bắc_hành_lược_ký #Lê_Quýnh #Nhã_namTrước nay khi học lịch sử hẳn các bạn hay được nghe về vị vua Lê Chiêu Thống là kẻ bán nước cầu vinh, cõng rắn cắn gà nhà. Chẳng lẽ lịch sử được viết bởi... chi tiết