Giới thiệu sách
Được đóng góp bởi OBook Team

Xứ Đông Dương

Xứ Đông Dương (tên tiếng Pháp là L'Indo-Chine francaise: Souvenirs) là hồi ký của Joseph Athanase Paul Doumer (1857 - 1932). Tác giả là Toàn quyền Đông Dương từ 1897 tới 1902, là Tổng thống Pháp từ 1931 tới 1932.

Cuốn hồi ký ghi lại lịch sử năm năm Paul Doumer cai quản Đông Dương qua bảy chương sách. Ở chương đầu, tác giả kể hành trình nhậm chức từ Paris tới Sài Gòn bấy giờ. Các chương tiếp theo đặt theo tên những địa danh: Tổng quan về Đông Dương, Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Cao Miên, Ai Lao. Bằng con mắt quan sát, tác giả dẫn người đọc đến với nhiều câu chuyện về điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế mỗi vùng. Ở chương cuối - Sự trỗi dậy của Đông Dương - tác giả tổng kết sứ mệnh toàn quyền Đông Dương của mình. Ông tự nhận đã tạo ra 'một nền hòa bình vững chắc', 'một bộ máy chính trị và hành chính hợp lý, nền tài chính vững mạnh, cùng hệ thống giao thông cơ bản'. Theo ngòi bút của Paul Doumer, độc giả được du ngoạn qua các vùng miền khác nhau với bản sắc riêng cùng những điểm yếu của Xứ Đông Dương cuối thế kỷ XIX.

Nhận định

'Cuốn sách truyền tải rất nhiều thông tin về xứ Đông Dương, nhất là về một giai đoạn lịch sử mang tính bước ngoặt về nhận thức trong xã hội Việt Nam lúc đó. Những năm tháng này cùng những sự kiện diễn ra mang đậm dấu ấn lịch sử cần được nghiên cứu một cách thấu đáo, khách quan, tránh những thành kiến và phê phán một chiều'.

(Phó Giáo sư Dương Văn Quảng - Tham tán Công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp)

Reviews 2

Người khởi xướng xây dựng tuyến  đường sắt lớn nhất Đông Dương đầu thế kỷ 20 chính là toàn quyền Paul Doumer (giai đoạn 1897-1902), sau là Tổng Thống Pháp rồi bị ám sát năm 1936. Ông chính là tác giả cuốn hồi ký hấp dẫn "Xứ Đông Dương", cuốn sách này được xuất bản dưới dạng kêu gọi đóng góp trước (crobo) mà mình cũng có tham gia. Cuốn sách là hồi ức của tác giả trong những năm là toàn quyền xứ Đông Dương thuộc Pháp, văn phong lôi cuốn, mô tả khá chi tiết về đời sống Đông Dương những năm đầu thế kỷ XX.

Thường khi đọc những sách loại này mình hay để ý đến những phần đề cập nơi mình sống (tức xứ Quảng Nam - Đà Nẵng) và có một đoạn mình rất ấn tượng về vùng đất này nhưng lại liên quan đến người Hoa đó là đoạn tác giả kể về một câu chuyện khi quân Pháp và Tây Ban Nha đổ bộ lên Đà Nẵng - khi đó vẫn còn là một làng chài thưa thớt dân cư ven biển, biệt lập với những vùng khác kể cả kinh thành Huế cách đó một con đèo. Thế nhưng khi đoàn quân Pháp-TBN vừa đặt chân lên làng chài đó thì ngay lập tức 1 tay buôn người Hoa đã dựng 1 cái tiệm tạp hóa dã chiến nơi doanh trại và cung cấp các nhu yếu phẩm cần thiết mà lính viễn chinh cần, rồi không hiểu bằng cách nào mà 1 tuần sau có ngay 1 chiếc thuyền buôn Trung Quốc cập bến để bổ sung hàng hóa cho tay người Hoa kia. Kể câu chuyện xong nhưng chính tác giả cũng thừa nhận là ông không thể lý giải nổi làm cách nào mà tay buôn người Hoa kia có thể biết được hành trình của đoàn quân viễn chinh cũng như thời gian lưu lại cửa Hàn mà báo cho thuyền buôn đưa hàng đến. Đó là một đặc tính vô cùng ưu việt của người Hoa mà chúng ta sẽ hiểu rõ hơn ở cuốn sách tiếp theo.

Loading 1

 REVIEW CỦA BẠN: Tùng Hoàng

 Nhận xét: Đoạn đầu khá lan man, dài dòng, nhưng các đoạn sau rất hay và cuốn hút. Số lượng ảnh mình họa nhiều, đẹp nhưng đôi lúc không phù hợp với nội dung.

(đọc tiếp...)

“Những người bản xứ khi biết được dự án của chúng tôi, họ cho nó là điên rồ. Bắc một cây cầu qua sông Hồng ư? Thật là điên!...Họ lớn tiếng kêu lên ”Không thể được!”. Rồi họ còn nói thêm thật khẽ rằng đây hoàn toàn là một sự mất trí. Ba năm sau khi khởi công, cây cầu đồ sộ đã hoàn tất, cây cầu Doumer (tức cầu Long Biên) đã được chính con người mà tên ông được đặt cho cây cầu biểu tượng của Hà Nội cho đến ngày nay kể lại, không thể nói là không làm tôi hết sức ngạc nhiên và thán phục. Cũng trong khoảng thời gian nắm quyền của vị Toàn quyền xứ Đông Dương kỳ lạ này, các cây cầu lớn ở khắp các miền, các tỉnh thành được xây dựng (cầu Tràng Tiền ở Huế, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa, cầu Bình Lợi ở Sài Gòn…), cảng Hải Phòng, các tuyến đường sắt, đường bộ được hoàn thiện với tốc độ thi công nhanh chóng và chất lượng kỹ thuật tốt không kém so với công nghệ ngày nay. Với dân trong nghề kỹ sư giao thông cầu đường chúng tôi, tôi hiểu đó là một khối lượng công việc khổng lồ và rất nhiều khó khăn ngay cả trong thời kỳ hiện đại, nếu ở vào thời kỳ đó, tôi cũng sẽ cho đó là một điều không tưởng.

Một đoạn hồi ký khi ông lần đầu đến Vịnh Hạ Long bằng tàu thủy như sau: “Tàu đi vào con lạch rộng, chạy qua các hòn đảo có tên trên bản đồ. Vào sâu bên trong vẫn thấy đảo, rồi lại đảo, toàn đảo là đảo, nối tiếp nhay rối rắm, ấy là chưa nói tới hình dạng số lượng thì nhiều vô cùng. Thực là một sự hỗn độn! Một thạch đồ hỗn loạn trên biển thuận lợi cho các tàu phóng lôi hoạt động… Một tàu lớn vào vịnh trong thời chiến nếu không có tàu phá lôi đi kèm thì nhất định phải cẩn thận tuần sát xung quanh và phải được bao quanh bởi các tàu trang bị đại bác nhỏ bắn nhanh, như thế ở một mức độ nào mới khỏi bị bất ngờ. Đó là lý do vì sao không thể canh giữ cẩn thận vịnh Hạ Long bằng các tàu phóng lôi; thêm vào đó, không thể phòng thủ cố định bằng pháo binh”. Một nhãn quan quân sự kỳ tài!

Một điều nữa mà ít ai biết rằng Paul Doumer, trong cương vị Toàn quyền Đông Dương, lại từng nhiều lần cưỡi ngựa chỉ với một vài người lính dẫn đường để đi khắp Đông Dương khảo sát, ngay khi ông vừa đặt chân tới đây. Trong hồi ký của mình, ông đã kể lại một trong những chuyến đi đáng nhớ khi ông cưỡi ngựa khoảng 800 cây số đường đất đi từ Hà Nội tới Đà Nẵng để khảo sát những miền đất mà tuyến đường sắt sẽ đi qua. Chuyến đi đó giúp ông đưa ra giải pháp cho những vấn đề còn chưa được quyết định mà các kỹ sư đã trình lên trong đề án.

Ông viết trong chương Trung Kỳ như sau: “Vấn đề trên giấy và trên bản đồ thường được giải quyết tốt hơn khi ta thấy thực tế. Vì thế, trong những chuyến đi đó tôi không muốn tốn thời gian vì những cuộc đón tiếp cầu kỳ; cờ và nhạc bị loại bỏ, cũng như những bữa ăn và nghỉ ngơi trở nên không cần thiết. Hành lý mà tôi mang theo cũng như của những sĩ quan tùy tùng, thu gọn một túi da đeo bên hông ngựa. Tôi lên đường và thay ngựa từng chặng, theo hộ tống tôi chỉ có một hay hai người lính bản xứ, khi cần họ có thể dẫn đường. Đó là điều duy nhất mà tôi cần chính quyền cung cấp cho tôi”.

“Chúng tôi đến Đèo Ngang, băng qua dãy núi chắn lối vào Trung Trung Kỳ. Đường xuống núi là một quãng dài với bậc thang bằng đá. Chúng tôi phải đi bộ và dắt ngựa, đôi khi buộc phải xuống những sườn dốc khác, rồi đi chậm lại và vượt qua những bãi cát lún kinh khủng, tất cả không có gì là bất ngờ, cũng không có gì gây khó chịu. Câu ngạn ngữ “Gian nan rồi sẽ qua nhanh” củng cố lòng kiên nhẫn cho những lữ khách đi trên những con đường cổ của nước Pháp cũng rất đúng với chúng tôi khi đi trên con đường này”.

“Nước ở khắp nơi. Nước ở trên trời, trong không khí và mặt đất. Mưa tuôn xối xả, tầm tã, trận này chưa qua trận khác đã tới. Đất nhão ra, sũng nước, chảy ra thành từng dòng bùn trôi theo nước. Sông suối đầy tràn…”. “Sau gần một giờ đi dưới những cơn mưa như trút liên miên này, áo mưa tráng cao su, những cái áo tốt nhất được sản xuất tại Pháp, đã bị nước ngấm. Nước bắt đầu ngấm vào vai, rồi ngấm dần xuống quần áo khoác ngoài, rồi quần áo bên trong cũng ướt, từng giọt, từng giọt lọt vào ủng, làm nó sũng nước. Trọng lượng mà con ngựa phải chịu trên lưng ngày càng tăng, trong khi đất ngày càng nhão và biến thành một vũng bùn lỏng và sâu. Nhưng chúng tôi vẫn tiến lên, tiến lên bất chấp tất cả, buộc con thú dũng cảm phải phi nước đại để không bị chết cóng trong nước lạnh đang sũng từ đầu tới chân, để lại sau lưng mảnh đất đại hồng thủy”. “Tất cả kiên quyết ghì chặt cương ngựa, dù không nhìn rõ, nhiều khi vấp phải hòn đá to hay sụt xuống một cái hố, ngã rồi đứng dậy, cũng không lo nghĩ chút nào về những tai nạn nhỏ này. Cuộc chạy đua trong bóng tối, trong nước, khi mà không thể nhìn thấy gì, hẳn phải có điều tuyệt vời nào đó mà chúng tôi không nhận ra. Tôi không biết điều gì đang chiếm lấy tôi, lòng can đảm hay sự bất cần. Chúng tôi gần như cảm thấy chắc chắn rằng là mình sẽ tới nơi mà không vấp phải trở ngại nào, và có lẽ cũng không đáng ngạc nhiên nếu mình lao xuống một vực thẩm”.

Đánh giá về con người của Paul Doumer, học giả Vương Hồng Sển cho rằng: Con người này “thành thật quân tử, có đức độ, khoan dung, dạy con phải phép. Ông biết rõ chức toàn quyền nhiều người tranh giành và rất là bấp bênh, vì vậy việc gì ông cũng làm một cách hối hả và muốn cho mau xong vì sợ nửa chừng bỏ dở. Và cũng vì làm quá gấp, thêm tính chuyên chế không ưa ai bình phẩm, nên bạn cũng nhiều mà nghịch cũng nhiều, duy không một ai dám nói động đến sự liêm khiết công bình của ông”. Có thể nói, Paul Doumer không chỉ là một nhà cai trị, ông còn là một học giả, một nhà kỹ trị, một chính trị gia đầy tham vọng muốn biến Đông Dương trở thành một nước Pháp ở Viễn Đông.

Là chủ bút của tạp chí Nam Phong, Phạm Quỳnh viết: “Từ khi quan Paul Doumer làm toàn quyền Đông Dương, thực là khai ra một thời kỳ mới trong cuộc sinh hoạt xứ này, chính trị từ đấy mới có thống hệ, các sự nghiệp kinh doanh về kinh tế trước còn mới dự tính xa xa, từ nay mới quả quyết thực hành”.

Cuốn hồi ký gồm 650 trang với nhiều minh họa về những đề tài thuộc ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cả xứ Cao Miên & Ai Lao (Campuchia & Lào), tất cả đều được vẽ bằng bút sắt, là một trong những cuốn sách đẹp và giá trị, từ hình thức đến nội dung. Như lời đề từ của PGS.TS Dương Văn Quảng: “Xứ Đông Dương là một cuốn sách đáng đọc, nhưng hãy đọc nó theo mối quan tâm, hay tư cách riêng của từng người và với một cách nhìn lịch sử. Bạn sẽ bị lôi cuốn bởi cách viết của tác giả; đặc biệt, bạn sẽ được khám phá và tìm thấy nhiều điều mới mẻ mà bạn chưa từng đọc được trước đó về giai đoạn lịch sử này của đất nước Việt Nam”.

Lời cuối để tri ân đến vị Toàn quyền kỳ lạ và không thể phủ nhận đã có nhiều công lao trong sự thay đổi của nước Việt Nam vẫn còn in đậm, rõ nét cho đến ngày nay, tôi xin trích lại lời ông nhắn gửi cho thế hệ sau này: “Người ta yêu cầu tôi sắp xếp lại các ký ức của mình, đặc biệt dành cho giới trẻ, cho những con người sẽ là công dân, những người lính của ngày mai”.  

Tùng Hoàng
Loading 1
Thông tin chi tiết
Tác giả Paul Douner
Nhà xuất bản NXB Thế Giới
Năm phát hành 04-2016
Công ty phát hành Fahasa
ISBN 2384854143969
Trọng lượng (gr) 350
Kích thước 16x24 cm
Số trang 636
Giá bìa 299,000 đ
Thể loại