Giới thiệu sách
Được đóng góp bởi OBook Team

Việt Nam Danh Tác - Việc Làng

Văn học Việt Nam thời xưa có nhiều tác phẩm có giá trị to lớn về mặt nhân văn và nghệ thuật, đã được công nhận và chứng thực qua thời gian. Bộ sách Việt Nam danh tác bao gồm loạt tác phẩm đi cùng năm tháng như: Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Việc làng (Ngô Tất Tố), Gió đầu mùa, Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam), Miếng ngon Hà Nội (Vũ Bằng), Vang bóng một thời (Nguyễn Tuân). Hy vọng bộ sách sau khi tái bản sẽ giúp đông đảo tầng lớp độc giả thêm hiểu, tự hào và nâng niu kho tàng văn học nước nhà.

Trích đoạn

“Rồi hắn nhấc cả con gà ra thớt. Bắt đầu chặt lấy cái sỏ, sau mới chặt đến miếng phao câu. Thình lình thấy hắn đứng lên ngoảnh mặt vào phía mấy ông đàn anh:

- Thưa trình các cụ, hôm nay sỏ gà pha mấy? phao gà pha mấy?

Một ông trong bọn nhìn qua vào đám nhiều tuổi, hình như để đếm đầu người, rồi đáp:

- Ở đây chỉ có năm cụ và bốn ông đàn anh. Vậy thì sỏ gà pha năm, phao gà pha bốn.”

Reviews 3

Tôi thích đọc những tác phẩm văn học xưa cũ, cả Tây, cả Tàu, cả Ta. Nhưng nếu phải chọn lựa tôi vẫn luôn thấy quý giá nhất là khi được đắm mình trong văn chương xứ nhà. Phần vì tôi là người Việt nên văn phong Việt đối với tôi vẫn là những gì gần gũi thân thương nhất. Phần còn lại là vì chỉ những nhà văn Việt mới đưa vào văn chương của họ cảnh sắc, con người cả làng quê lẫn đô thành vừa dung dị lại vừa mộc mạc như thể ta chỉ cần nhìn xung quanh là thấy được tất thảy những cảnh ấy vậy.

Trong lớp nhà văn cũ tôi còn nhớ nhiều người khiến tôi ngao ngán khi còn đi học vì phải phân tích liên miên về từng từ từng câu họ viết. Ấy vậy mà khi cầm tác phẩm của họ trên tay tôi luôn không có cách nào bỏ xuống được. "Việc Làng" của Ngô Tất Tố là một tác phẩm của một tác giả như thế.

(đọc tiếp...)

Vì đây là một thiên phóng sự nên tác giả không đề cập đến cảm xúc cá nhân trong mỗi bài viết, nhưng chỉ riêng cách ông thuật lại sự thật đã khiến tôi không kìm được cảm xúc. Là uất ức thay những người nông dân quanh năm vất vả. Là mệt mỏi thay những gia đình bị cái gọi là "lệ làng" ép đến mức táng gia bại sản. Là đau đớn thay ông cụ không sợ chết mà chỉ thương cho con cháu sau khi mình chết có khi mất cả đời oằn lưng gánh món nợ cỗ bàn...

Cả tập sách được dành để tả lại những ""hủ tục"" xưa cũ, những thứ đã giết chết không biết bao nhiêu con người khi xưa. Mà trung tâm của những hủ tục ấy là bữa cỗ ở đình làng.

Người ta có trăm nghìn dịp để ăn cỗ, dù cho bữa cỗ đó khiến một gia đình táng gia bại sản, khiến một người chồng phải treo cổ tự tử, hay khiến những đứa trẻ phải đi ở đợ mà kiếm tiền người ta cũng chẳng quan tâm. Các cụ Lý, cụ Kỳ, cụ Cựu... các bậc quan làng chỉ cần biết họ có miếng có phần là đủ. Còn thì xoay sở ra làm sao nào có phải việc của họ.

Lại nói, từ những nhà có chút của ăn của để đến những người nghèo khổ đến mức phải dỡ nhà lấy gỗ đi bán cũng có phần đáng trách. Họ không chỉ cam chịu mà đôi khi còn lấy làm hãnh diện khi cho làng được bữa cỗ linh đình. Dù cho tiền cỗ phải đi vay mượn. Dù cho tích cóp cả đời đều chỉ đủ dồn vào mâm cỗ ấy. Họ cam lòng và hạnh phúc khi được mấy lời đãi bôi khen cỗ sang hơn kẻ đó người kia.

Sau cỗ niềm hãnh diện thoáng qua ấy không thể thay cơm cho họ ăn, cũng chẳng thể thay tấm chăn lúc gió lạnh. Nhưng cái suy nghĩ phải "có ngôi" ở làng, phải "nở mày nở mặt" một khi đã ăn sâu bám rễ trong đầu những con người khốn khổ đó đến mức giá có lấy con dao sắc lẻm của cái anh chuyên chặt gà làm cỗ cho làng chém cũng không đứt nổi.

Họ ấy mà, những người dân xứ tôi, những người bị trói buộc sau lũy tre làng vừa đáng thương lại vừa đáng giận. Nhưng có khi chính họ với niềm vui sướng hân hoan vì nghĩ mình thế là cũng được làng trọng vọng, họ cũng chẳng nghĩ thế là khổ sở gì cho cam.

Việc làng của Ngô Tất Tố vốn là một thiên phóng sự, vì thế nên tác giả không lồng ghép những cảm xúc cá nhân của mình một cách lộ liễu vào từng bài viết, nhưng có thể ngầm thấy rõ mồn một quan điểm phê phán hiện thực trong góc nhìn của ông về những tục lệ của làng xã Việt Nam mà ông tận mắt chứng kiến và ghi lại. Những người nông dân lam lũ, chân lấm tay bùn quanh năm vất vả, chỉ vì những "phong tục tập quán" truyền thống để lại, biến tướng dần từ bao đời đến lúc này đây, trở thành những cái "lệ làng" thắng cả "phép vua" quái ác mà tán gia bại sản. Sự uất ức phẫn nộ đôi khi chỉ có ở người đọc, vì những người dân trong hoàn cảnh đó, nhiều lúc họ còn tự nguyện để mình oằn lưng gánh lấy những cỗ bàn, thờ tự, lấy làm hãnh diện đãi cỗ linh đình, để tránh lời lẽ không hay, bia miệng ngàn năm từ xóm giềng làng xã.

Cả tập sách hầu như chỉ miêu tả đủ hết thảy những tục truyền xưa cũ, trào phúng, châm biếm, đồng thời cũng mỉa mai thương xót cho những thứ ngày đó đã gián tiếp và cả trực tiếp giết chết không biết bao nhiêu mạng người khi xưa, thế nhưng trong thời hiện đại ngày nay không vì vậy mà những trâu, xôi, gà, lợn biến mất hoàn toàn. "Phú quý sinh lễ nghĩa", nhưng nghèo đói cũng vì danh dự, sĩ diện, hư danh, tập tục ràng buộc không buông bỏ được mà vẫn trọng hình thức, xa hoa lãng phí không khác xưa là mấy. Trung tâm lại, là bữa cỗ ở đình làng, là giỗ chạp trong gia đình, là những điều mà người ta truyền miệng nhau rằng "phải tưởng nhớ tổ tiên, tôn trọng truyền thống". Thật là thế không, hay cả đời oằn lưng gánh món nợ cỗ bàn, "Một bữa lệ làng có thể gây cho người ta món nợ lãi chung thân không trả hết"?

Ngô Tất Tố là một thiên tài phóng sự đất Bắc. Ông dùng mắt quan sát, dùng óc để nghiền ngẫm và dùng bút để ghi lại những điều mắt thấy tai nghe, tim cảm nhận được. Đến với "Việc làng", ta vừa thương cảm cho những người dân nghèo vừa sục sôi căm giận trước những kẻ cường hào chức sắc nơi thôn quê. 

Người dân vì hư danh mà phải chịu khổ " Theo lệ nhà quê, những người ngụ cư ba đời mới được "thành tổ". Nghĩa là được ngang hàng với mọi người khác. "Làng này lại ngặt hơn nữa, từ xưa đến giờ họ không cho một người ngoài nào nhập bạ. Vì thế, anh tôi và tôi cũng như ông thân chúng tôi, đều không có ngôi ở đình. "Chắc ông cũng biết ở làng mà không có ngôi, thật là một sự nhục nhã. Những lúc tứ quý kỳ phúc, người ta thì phần ăn, phần gói, mình thì chẳng có miếng gì. Những lúc hội hè, đình đám, người ta rước cờ, rước quạt, mình chỉ đóng vai khiêng chiêng. Như thế cũng đã khổ rồi. Hơn nữa, lỡ có cha già mẹ héo, làng giáp có chôn cho đâu! Chính lúc ông thân bà thân chúng tôi qua đời, anh em tôi đều phải nhờ cậy hàng xóm khiêng giúp. Rồi khi xong việc, chúng tôi muốn theo mọi người nộp lệ cho làng con trâu, họ cũng không thèm nhận cho. Cái đó mới cực cho chứ!". Chỉ vì mâm xôi thờ cúng nơi làng mà bao gia đình phải "rộn " cả lên "Chỉ vì một lớp bốn người cùng phải thổi xôi, người nào cũng sợ xôi của mình thua kém xôi của người ta, thì sẽ mang tiếng với làng, cho nên ai cũng phải cố. Trước kia làng cháu đã có lắm người chỉ sửa một "vấn" xôi mới mà mất cơ nghiệp ông ạ". Thế mới thấy, háo danh làm chi cho khổ cái thân!

(đọc tiếp...)

Còn những kẻ đứng đầu làng, đại diện cho bộ máy phong kiến lạc hậu thời bấy giờ thì vì cái ăn, vì cái lợi riêng mà cướp đi bao mồ hôi, nước mắt của người dân. Thiên phóng sự tràn ngập trong cái mỡ màng của thức ăn: Nào xôi, nào thịt lợn, thịt gà... với giọng mỉa mai đồng thời cũng là chua xót của Ngô Tất Tố.

Thông tin chi tiết
Tác giả Ngô Tất Tố
Nhà xuất bản Nxb Hội Nhà Văn
Năm phát hành 05-2014
Công ty phát hành Nhã Nam
ISBN 8935235202276
Trọng lượng (gr) 198.00 gam
Kích thước 14.5 x 20.5 cm
Số trang 152
Thể loại