Giới thiệu sách
Được đóng góp bởi OBook Team

Mục lục

Trở gió

Đất mũi mù xa

Xa đầm thị tường

Tháng chạp ở rạch bộ tời

Quán nhớ

Chợ bên đường

Ngậm ngùi hưng mỹ

Nguyệt - Người bạn không biết viết văn

Hiên trước nhà một bà già tốt bụng

Một mái nhà

Chơi một mình

Lời nhắn

Sân nhà

Cha và con

Một giấc mơ

Làm cho biết

Tản mạn quanh... cái cổng

Cửa sau

Thư từ quê

Kính thưa anh nhà báo

Đi qua những cơn bão khô

Chờ đợi những mùa tôm

Đôi bờ thương nhớ

Hư ảo rồi tan...

Chút tình sông nước

Bùa yêu và con nhỏ thất tình

Gió mùa thao thức

Ngơ ngác mùa dưa

Chợ của má

Lời cho má

Ngủ ở mũi

Trăm năm bến cũ con đò

Bà già vui vẻ

Nhớ nguồn

Mơ thấy mùa đang tới

Lời bạt: Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư

trân trọng giới thiệu

Reviews 2

“Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” mang tới một chất văn nhẹ nhàng thấm đẫm nỗi lòng của tác giả khiến tôi thực sự quý mến cái tình, cái nghĩa mà Nguyễn Ngọc Tư đã đem vào từng dòng văn ấy. Tựa như những lời tâm sự nhỏ nhẹ sau những năm tháng trải đời, trải nghề; những câu chuyện không hề đao to búa lớn nhưng lại cuốn hút đến kỳ lạ và tính gợi mở thì lại rất cao. Các nhân vật trong mỗi mảnh truyện ấy cũng đời thường và dung dị lắm, họ cũng chỉ là những con người ở một làng quê nghèo nào đó, sống với sự đôn hậu và chân chất ở nông thôn. Có lẽ đây cũng chính là chất văn thuần hậu của Nguyễn Ngọc Tư, không lẫn vào đâu được, đượm tình và rất đỗi giản đơn, như chính cái hồn của quê hương xứ sở.

Ba mươi lăm bài tạp văn khác nhau tập hợp lại thành một quyển sách. Những câu chuyện kiểu bé bé xinh xinh như khúc tự tình nhè nhẹ mà tác giả gửi chút hương sắc của phong vị cuộc đồi vào trong đó. Cảm xúc mà mỗi khúc truyện mang lại rất lắng sâu, rất khó quên trong lòng tôi. Mở đầu là “Trở gió”, tác giả đã vẽ ra dòng gió chướng cồn cào, nồng nhiệt nhưng cũng quá đỗi dịu dàng. Mỗi cơn gió như có linh hồn chứ không hề thổi vu vơ như người ta vẫn nghĩ. Và cái cảm giác đón gió ấy cũng hỗn loạn vô cùng vì vui mừng có mà bực bội trong lòng cũng có nốt. Rồi nỗi lòng của “má” về cây lúa chưa chín tới cứ thế mà trỗi dậy hoài, cái tính lo xa ấy khiến người ta càng thêm yêu thương tấm lòng vì gia đình của người phụ nữ Việt Nam, tảo tần sớm hôm vì con vì cái. Mở màn bằng câu chuyện về ngọn gió như thế - một dạng cảm xúc và ký ức có chút ám ảnh về cơn gió chướng cũng khiến tôi khá bồi hồi và chạnh lòng khi nghĩ đến một năm nữa sắp đi qua, thời gian cứ thế mà trôi đến vô tình.

(đọc tiếp...)

Dĩ nhiên không thể thiếu một bài viết về quê hương Đất Mũi của tác giả. “Đất mũi mù xa” với những ngọn nắng lầm lì và gió cởi mở, cùng với đó là nước mặn quéo cả lưỡi và biển thì đục ngầu do chất phù sa màu mỡ ở nơi đây. Ở vùng đất còn nghèo ấy, cái tình nghĩa của con người thôn quê mới là quý giá, chút buồn buồn thể hiện qua ly rượu đế cay xè nhưng lại ấm lòng kinh khủng. Có lẽ ai tới nơi đây rồi cũng sẽ cảm nhận được cái tình ấy, mộc mạc thôi nhưng thấm thía vô cùng. Một chút man mác mà Nguyễn Ngọc Tư gợi ra đều làm tôi có cảm xúc khó tả. Cũng chỉ là một chút nhớ thương thôi, một chút xa quê thôi như sao lại nhớ quá chừng. “Xa đầm Thị Tường” gợi nhớ đến những con tôm kỳ lạ, cứ thích lội ngược vậy đó. Chúng cũng giống như con người, mê thứ ánh sáng phù hoa rực rỡ - cứ thấy ánh đèn treo đầu ngọn lú là de đít vô không hề nghĩ ngợi gì cả.

Rồi những so sánh vô cùng thú vị trong “Tháng Chạp ở rạch Bộ Tời”, chẳng hạn như: “Người Việt mình với Tết giống như con rắn tới kỳ lột da, lột không được, ngắc ngứ hoài, rũ không hết lo phiền, khó chịu lắm.” Đọc câu văn mà cảm thấy nao lòng, đúng là tết đến tuy vui nhưng có nhiều nỗi lo đối với những người còn khó khăn về tài chính. Nợ thì còn đó thì làm sao mà tết có thể trọn vẹn được, nỗi lo cứ chất chồng lên những người nuôi tôm ở vùng quê nghèo khó, cũng chỉ kiếm cái ăn cái mặc vậy mà cực nhọc lắm thay. Trồng lúa thì lúa chết, đất phèn cực kỳ mặn còn kinh nước thì cạn queo; riết rồi sự chăm chỉ của họ cũng chẳng được đáp đền gì cả. Người ta nói khổ riết quen luôn là có thật, vì trải qua quá nhiều cái khổ rồi thì sau này nghe tin tôm chết, họ cũng không nôn nao “như con trai út của mình bệnh ngặt” nữa, nghe tin giá lúa giảm bất thường cũng chỉ như nghe tin lá cải gì đó không liên quan đến mình. Sự chịu đựng ấy dường như đã trở thành bản năng mất rồi. Đọc xong những dòng ấy, tôi chỉ biết ngồi buồn vì cuộc đời không phải luôn cho người ta cái may mắn được sống trong cơm no áo ấm mà vẫn còn ngoài kia biết bao cảnh đời cơ hàn như thế.

Những kỷ niệm tuổi thơ mà Nguyễn Ngọc Tư gợi ra cũng hết sức tuyệt vời. Ngày nay người ta thường dành thời gian đi siêu thị hay những trung tâm thương mại to lớn nhưng đối với nhà văn thì chữ “tiệm” cực kỳ thương yêu và đáng trân trọng. Tác giả dành tình cảm cho những tiệm tạp hóa năm xưa với hai từ mỹ miều là “Quán nhớ”. Đúng là chúng gợi nhớ đến những hàng quán giản dị nhưng chất chứa bao nhiêu kỷ niệm của thời ấu thơ, khiến chúng ta nhớ mãi về một khoảng thời gian tươi đẹp và vụng dại. Có thể những hủ củ cải muối và rổ hột vịt vẫn cứ thế mà hiện lên đầy chân tình, rồi những cái kẹo của tiệm dì Hai cất dựa mé sông – mọi thứ như một khung trời mộng ảo của những ngày xưa cũ. Ngày xưa ấy không chỉ là những cái “quán nhớ” thân thương để lũ trẻ mua quà mà còn là những khu chợ ven đường gần gũi. Lời rao tiếng bán cứ thế mà vang vọng, nhiều khi bán cả mấy trái dừa khô cũng chỉ để mua bó rau càng cua về trộn giấm ăn – cái món ăn dân dã mà chả hiểu sao ngon đến thế. Và đúng là văn hóa “bán theo mớ” cũng chỉ có ở những cái “chợ bên đường” mà thôi, vì người ta tin tưởng nhau và không hề nghĩ sẽ có những mánh khóe lừa gạt nhau trong việc cân đong đo đếm các món hàng như hung lủi, hung cây, cần nước, cần rừng,… Rồi các mẹ, các dì cứ túm tụm để “tám chuyện”, từ chuyện chồng con, chuyện hàng xóm, chuyện ruộng vườn cây trái cho đến mọi thứ linh tinh ở đất trời này. Nghĩ mà vui, mà thấy đúng cực kỳ vì cái chợ vốn dĩ ồn không phải do mua bán đông khách mà do các bà cứ thích “trao đổi thông tin” cho nhau – cái nét văn hóa gì mà kì cục nhưng lại dễ thương đến lạ lùng.

Hơn thế nữa, Nguyễn Ngọc Tư còn đem vào quyển tạp văn những câu chuyện đau lòng mang tính thời sự với cái tên “Ngậm ngùi Hưng Mỹ”. Đó là một bi kịch thì lứa tôm cứ thế mà chết triền miên, kéo dài ba mùa chuyển dịch để rồi dẫn đến số phận thất bát, bại sản của người dân vốn dĩ đã nghèo lắm rồi. Những giọt nước mắt cứ thế lăn dài cho những số phận như thế, cái cảnh “không gạo, không tiền, không cá, không rau, không cỏ” cứ thế mà ám họ hoài, thử hỏi sao mà trang văn của Nguyễn Ngọc Tư không buồn cho được. Phận người tuy khổ là thế nhưng họ vẫn nuôi niềm hy vọng to lớn về tương lai thoát nghèo, vì “sống để mà bước tới” chính là tuyên ngôn trong lòng những con người cần cù chịu khó ấy. Có lẽ những nhân vật sau đó như Nguyệt, bà già tốt bụng, hình ảnh của má, của tình thương cha con, của mái nhà yêu thương hay sân nhà quen thuộc cứ thế mà tuôn tràn ra… Mọi thứ đều tuyệt vời theo cách đơn sơ nhất, khiến chúng ta hiểu cuộc đời dẫu có phong ba bão tố thế nào cũng còn đó những khung cảnh cũ người xưa – sẽ là hành trang và hậu phương vững chắc cho ta trên mọi bước đường đời. Điều quan trọng là chúng ta phải có niềm tin, phải còn đó trong lòng nỗi “chờ đợi những mùa tôm” để cuộc sống được thêm phần tốt đẹp.

“Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” đã khiến tôi thêm yêu nhà văn vùng Đất Mũi ấy. Với văn phong nhẹ nhàng nhưng bàn luận sâu sắc về tình đời, tình người và những câu chuyện buồn mang tính thực trạng của đời sống người dân, Nguyễn Ngọc Tư thực sự đã mở ra rất nhiều vấn đề khác nhau và mang tới vô vàn cảm xúc đặc biệt. Có lẽ không cần những câu văn hoa mỹ, không cần cốt truyện nhuốm màu thương tâm thì tác giả cũng đã viết ra được những mảnh tình tuyệt vời cho chúng ta thưởng thức. Cái trữ tình của quyển sách thực sự là nồng đượm và tha thiết vô cùng. Và đúng là cái gì tự tâm mà ra thì rất dễ đến tâm của tất cả mọi người.

Review 104 : Tạp Văn Nguyễn Ngọc Tư

Nổi danh với "Cánh đồng bất tận", dù chưa đọc, tớ nghĩ Tư là một nhà văn có lời văn buồn . Hay chí ít, cái không khí văn sẽ man mác buồn. Mà tớ sai hoàn toàn rồi. Chị Tư viết văn vui lắm. Vui mà đáng yêu, nồng hầu đúng chất người miền nam. Đọc văn thấy nhẹ nhàng, yêu đời gì đâu

(đọc tiếp...)

Tạp văn, là những bài văn ngắn. Một trang, 2 trang, dài nhất 4 trang là cùng. Nó tạp nham , đủ các kiểu. Cuốn "Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư" viết về đất mũi. Xóm rau dừa, cây dừa, gáo dừa,... và những ngôi nhà không cửa. Bởi xóm nghèo, nhà cũng chẳng có chi mà trộm. Nơi ấy, con người nhiệt tình nhưng nghèo quá. Họ nghèo vì đất đai khó khăn, thiếu hiểu biết. nhưng họ lại giàu. Giàu hơn những người giàu

Những câu chuyện rất nhỏ thôi. Về cái nhà của Tư, về quán tạp hóa, về chợ quê nhưng nó lột tả rất rõ nét cuộc sống của con người đất mũi. Với lời văn dí dỏm, Từ ngữ địa phương, ngôn từ đơn giản và những lời bộc bạch không chau truốt đã tạo nên cái rất hay của tác phẩm

Nói về hay , đương nhiên có dở, Dở nhiều ấy chứ. Dở là về nội dung . Nội dung trùng lặp , cái này không đáng nói. Nhưng không hiểu sao khi đọc, tớ cứ thấy không cuốn. Rõ là lời văn rất hay. Có phải nội dung quá êm đềm, cuộc sống quá êm đềm thường khiến ta nhàm chán chăng ? 

Thông tin chi tiết
Tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Nhà xuất bản Trẻ
Năm phát hành 06-2015
ISBN 8934974101000
Trọng lượng (gr) 240 gr
Kích thước 13x20 cm
Số trang 196
Giá bìa 50,400 đ
Thể loại