Reviews 2

Vài nét về tác giả Paul Johnson :

Ông sinh năm 1928, là một trong những sử gia hang đầu của nước Anh, đã viết hơn ba mươi cuốn sách, trong đó tiêu biểu là History of Christianity, Mordern Times, A history of the Jews (tức là cuốn Lịch sử Do Thái này đây).

(đọc tiếp...)

Lịch sử Do Thái là cuốn sách nổi tiếng nhất của Paul Johnson, được xuất bản tại Anh lần đầu năm 1987.Ông nói rằng cuốn sách này là một sự giải thích mang tính cá nhân của ông về lịch sử Do Thái và có thể có sai sót. Lý do ông viết cuốn sách này là vì 1. muốn viết về những người đã tạo ra đức tin cho ông 2.sự thú vị mà ông tìm thấy trong suốt chiều dài lich sử của dân tộc này, 3.lịch sử Do Thái không chỉ bao trùm khoảng thời gian rất dài mà còn trên nhiều lĩnh vực, 4. Quá trình viết cuốn sách cho ông cơ hội để xem xét lại 1 cách khách quan câu hỏi nan giải nhất của loài người: chúng ta sống trên đời vì điều gì ?

Bạn biết gì về dân tộc Do Thái ?

Khi đọc “Những người nuôi giữ bồ câu”, mình đã biết rằng dân tộc Do Thái có số phận vô cùng đặc biệt - hứng chịu những bi kịch lớn lao nhất mà 1 tộc người có thể hứng chịu : đàn áp, thảm sát, lưu đày...và mất đi tổ quốc, tuy vậy họ vẫn kiên cường chiến đấu hàng ngàn năm.

Khi đọc Nhật ký Anne Frank, Nghệ sĩ dương cầm, Bản danh sách Schindler... và đặc biệt là được đọc Bài học Israel của cụ Nguyễn Hiến Lê, mìnhđã hiểu thêm về quá trình phục quốc cam go vàđẫm máu của dân tộc Do Thái.

Là tộc người được đánh giá là thông minh nhất, họ đã ngoan cường vượt qua chặng đường dài để trở về mảnh đất của tổ tiên và tái lập tổ quốc của riêng mình, mặc dù vẫn còn bị bao vây và tranh chấp.

Càng đọc lịch sử Do Thái, mình càng cảm phục tinh thần quả cảm vượt qua muôn vàn bất hạnh của dân tộc này. Với gần 1000 trang,được tác giả chia ra bảy phần lớn, không biết đến khi nào mình mới đọc xong. Hy vọng từ giờ đến cuối năm chăng ? Tuy vậy mình cảm thấy phải ghi ngay vài dòng về nó, mong muốn rằng những bạn nào quan tâm yêu thích lịch sử khiđọc những dòng giới thiệu sơ qua này có thể yên tâm mà vợt về gối đầu giường.

Đây quả là 1 cuốn sách khó đọc, vì nó quá dày (hơn 800 trang khổ 16x24cm), quá nhiều địa danh, tên người, cùng vô số thông tin về đủ thứ lĩnh vực trên đời: tôn giáo, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch sử, chiến tranh v.v…. và v.v… Đúng như tên gọi của nó, ‘Lịch sử Do Thái’ của Paul Johnson (người Manchester, Anh quốc, sinh năm 1928, tức là năm nay cụ sử gia này đã 92 tuổi!) là một cuốn ‘toàn thư’ về dân tộc Do Thái từ thời xa xưa nhất – tầm năm 2.000 TrCN, tức là cách nay bốn ngàn năm (trùng hợp thay, khi người Việt cũng tự hào có chừng ấy năm lịch sử!).

Khi viết một cuốn sách lịch sử, nhất là về một dân tộc hay quốc gia trong một giai đoạn rất dài, thông thường tác giả sẽ chia nó thành nhiều phần, rồi nhiều chương, mục, tiểu mục. Túm lại, càng chia nhỏ (theo thời gian, hay theo chủ đề) thì độc giả càng dễ theo dõi, đối chiếu, tra cứu. Đằng này, Paul Johnson không làm thế: ông ta chia cuốn sách thành 7 phần, mỗi phần hơn trăm trang, và … chỉ thế thôi. Trong mỗi phần, ông ta viết luôn một lèo, không bận tâm chia nó ra thành bất cứ chương hay mục nào. Túm lại, bạn có thể đọc cuốn sách này như là đọc …7 cuốn sách nhỏ riêng biệt, với những chủ đề khác nhau về dân tộc Do Thái: Người Do Thái – Do Thái giáo – Chế độ giáo sĩ trị - Ghetto (khu định cư dành riêng cho người Do Thái) – Giải phóng – Holocaust (việc diệt chủng người Do Thái trong Thế chiến II) – Zion (phong trào phục quốc của người Do Thái).

(đọc tiếp...)

Nghe tới những từ ngữ như “Do Thái”, “Israel”, “Jerusalem”, “dải Gazza” hay “bờ Tây”, bạn hình dung ra điều gì? Hẳn câu trả lời của nhiều người sẽ là: một dân tộc thông minh giỏi giang (nhiều người đoạt nhiều giải Nobel ở nhiều lĩnh vực), hiếu học, ham đọc sách, sùng đạo, và sống ở một đất nước hay có xung đột, chiến tranh. Thông tin về Do Thái dường như là khá nhiều và lộn xộn, ai cũng có biết, có nghe song…không biết đầy đủ và chắc chắn cho lắm. Đọc cuốn sách này, mới hiểu sự “không biết chắc chắn” đó là hoàn toàn dễ hiểu, bởi lịch sử Do Thái vừa lâu dài, vừa phức tạp, vừa độc đáo (thực sự là …không giống ai!), vừa trải qua vô số giai đoạn bi hùng ghê gớm, không dễ nhớ và dễ hiểu chút nào. “Lịch sử” ở đây bao gồm cả lịch sử tôn giáo, lãnh thổ, chính trị, xã hội và văn hóa của một dân tộc rất lâu đời, vốn phát xuất từ vùng Lưỡng Hà (Cận Đông), nơi giao nhau giữa hai lục địa Á-Âu ngày nay, nơi có những nền văn minh cổ xưa nhất của nhân loại. Cùng với nhiều tộc người khác, như Ai Cập, Assyria, Babylon, Ba Tư, Hy Lạp, La Mã, Ả Rập…., người Do Thái sinh sống và phát triển theo thời gian, dần dần hình thành tôn giáo và nền văn hóa độc đáo của riêng họ. Từ thời cổ đại, nếu như các dân tộc khác, chẳng hạn như người Ai Cập hay người Hy Lạp, giỏi giang về các môn “tự nhiên” như kiến trúc, điêu khắc, hay thương mại, quân sự, thì người Do Thái lại nổi trội nhất về (hay nói chính xác hơn là họ quan tâm nhất đến) tôn giáo và lịch sử. Họ là những người đầu tiên chuyển sang tôn giáo độc thần – một bước tiến lớn của sự phát triển tôn giáo nơi loài người. Họ cũng sớm suy tư về cội nguồn, có ý thức viết lại, lưu lại lịch sử của dòng họ, dân tộc. Rất tự tin và kiêu căng trong những vấn đề đó, người Do Thái cổ đại đã xây dựng nên truyền thuyết về lịch sử của riêng dân tộc họ - dân tộc được Chúa (Đức Chúa Trời, Giê-hô-va, YHWH, Yahweh) chọn và ban cho Miền Đất Hứa (Promised Land) tại Palestine. Đọc tới phần này bỗng dưng tôi thầm nghĩ: hình như dưới gầm trời này dân tộc nào cũng chọn cho mình cái “Sơ yếu lí lịch” oai hùng và sáng láng hết, hãy xem người Việt hay người Nhật cũng rứa, trừ “anh” Huê Kỳ là không mà thôi, cho nên…..

Do Thái giáo (Judaism), một trong những “sản phẩm” sớm nhất và lừng lẫy nhất của người Do Thái, đã tạo nên nền văn hóa (ứng xử, lễ nghi, sinh hoạt, gia đình v.v….) của dân tộc này từ rất sớm, phân biệt họ với tất cả mọi dân tộc khác. Trong nhiều trang sách, tác giả không chỉ trình bày những chi tiết về tôn giáo này (phần này rất ư là khó đọc, khó nhớ!) mà còn đưa ra những phê phán, lý giải tại sao tôn giáo này nhiều khi đã gây hại cho người Do Thái, tại sao mà từ nó đã sản sinh ra hai “nhánh cây” riêng biệt – và sau này còn mạnh hơn cả cái gốc ban đầu – là Cơ đốc giáo và Hồi giáo. Độc giả không thể không nghĩ: trong tất cả những phong trào tôn giáo, chính trị hay văn hóa, loài người luôn xuất phát từ một cái gốc (sau này gọi là ‘chính thống’), rồi qua thời gian và không gian, những thế hệ sau dần nhận thấy những vấn đề, những cái chưa phù hợp, để tạo ra những chi nhánh, biến thể và xét lại – những phong trào cải cách! Từ Do Thái giáo, sau 5-6 thế kỷ người ta có Cơ đốc giáo (Ki tô giáo), rồi sau 5-6 thế kỷ nữa, người ta lại tiếp tục sản sinh ra Hồi giáo. Từ Cơ đốc giáo, sau 13-14 thế kỷ, phương Tây bắt đầu cải cách và kết quả là đạo Tin Lành, cùng vô số nhóm nhỏ khác như ngày nay chúng ta đang thấy: Chính thống giáo tại Nga, Anh giáo tại Anh v.v…

Đó là về tôn giáo của người Do Thái. Về lịch sử và chính trị, cũng có nhiều nét thú vị. Hãy so với lịch sử của người Việt, nói ngắn gọn chỉ là “dựng nước và giữ nước”, với hầu hết các hoạt động diễn ra trên một phạm vi địa lý tương đối nhỏ hẹp tại bán đảo Đông Dương qua hàng ngàn năm: giặc tới thì đuổi giặc đi, chứ nhìn chung người Việt …không có đi đâu xa xôi hết! Người Do Thái lại rất khác. Thoạt tiên, như nhiều bộ lạc thời cổ đại, họ cũng từng có thời kỳ “chiếm thành, giành đất” với nhiều võ công vang dội (được chính họ ghi lại trong sách vở - kinh Torah, hay phần Cựu ước trong Kinh Thánh). Dưới thời vua David, rồi vua Solomon (thế kỷ X TrCN), người Do Thái vẫn có một vương quốc riêng, song khoảng từ thế kỷ VIII TrCN họ lần lượt bị các dân tộc khác chiếm đất và cai trị. Chỉ trong một thời gian tương đối ngắn ngủi (khoảng từ năm 140TrCN tới thập kỷ đầu tiên sau công nguyên, tức là khoảng hơn một thế kỷ) họ có quyền tự trị, phần nào độc lập dưới triều đại Hasmoneus và triều đại vua Herod – đây là giai đoạn giao thời giữa hai đế quốc châu Âu khi đó đang bá chủ thế giới (‘thế giới’ khi đó nhìn chung chỉ bao quanh vùng Địa Trung Hải!) là Hy Lạp (vương quốc Seleukos 312TrCN-63TrCN) và La Mã (từ 27TrCN tới khoảng thế kỷ V). Từ thế kỷ I cho tới …thế kỷ XX (1948) người Do Thái phân tán và lưu vong trên toàn cầu, bị ngược đãi và tàn sát bởi …hầu như tất cả các dân tộc và tôn giáo: người Ki tô giáo, người Hồi giáo Ả Rập, người phương Tây (gần nhất là đế quốc Nga, rồi Liên Xô và Đức Quốc xã)… Điều khá thú vị là do tôn giáo chiếm phần quan trọng trong văn hóa Do Thái (trong lòng dân tộc này, từ rất sớm, sự cạnh tranh giữa thế quyền – một nhà nước Do Thái, và thần quyền – chế độ giáo sĩ trị, với các nhà tiên tri, các tư tế, các thầy thông giáo {những người chép và giảng dạy Thánh Kinh Do Thái}), nên khi họ bị dân tộc khác đánh đuổi hay đô hộ, họ có một cách giải thích hơi “lạ”: đó là ý của Thiên Chúa, do người Do Thái đã phạm lỗi lầm gì đó và …xứng đáng bị trừng phạt!!! Với tư tưởng đôi khi ‘chủ bại’ hay ‘cầu hòa’ nói trên, từ sau những cuộc nổi dậy ở thế kỷ I và thế kỷ II trước ách thống trị của đế quốc La Mã (và bị đàn áp, thậm chí Jerusalem bị phá hủy hoàn toàn!), người Do Thái …cam phận luôn, chấp nhận sống như những cộng đồng dân cư hạng hai ở nhiều nơi trên thế giới. Họ chấp nhận lui vô trong các ghetto – những khu định cư riêng, để được sống yên thân và được thực hành tôn giáo của mình, bất chấp việc phải chịu sự phân biệt đối xử (dưới nhiều hình thức khác nhau, cả tài chính lẫn phi tài chính!) và thậm chí là luôn phải ‘nắm đằng lưỡi dao’ – chính sách của các vương quốc hay nhà nước từ Âu sang Á với người Do Thái có thể thay đổi bất kỳ khi nào, theo hướng có hại cho họ. Người Do Thái trong gần 20 thế kỷ sau Công nguyên chấp nhận thể hiện và duy trì sự khác biệt của họ dù sự khác biệt đó khiến họ bị căm ghét, khinh bỉ và ngược đãi – với phong trào bài Do Thái diễn ra trên rất nhiều vùng đất và trong nhiều khoảng thời gian khác nhau, từ thời Trung Cổ tới thời Phục Hưng rồi thời cận đại và hiện đại…

Tuy nhiên, tình hình đã đổi khác từ cuối thế kỷ XIX với phong trào phục quốc Do Thái (Zion) và sự ra đời của nhà nước Israel năm 1948. Thông tin về giai đoạn hiện đại trong thế kỷ XX và XXI của Israel có khá nhiều, sách này cũng chỉ tường thuật lại chi tiết, song cảm nhận của tôi về sự ra đời và phát triển dung mãnh ‘giữa muôn trùng vây Ả Rập” của Israel, nhất là trong ba thập kỷ đầu tiên của họ, có thể nói ngắn gọn trong mấy ý sau:

Như Việt Nam giành độc lập 1945, Do Thái Israel đã rất khôn khéo tận dụng được những thời cơ ‘ngàn năm có một’ để có được sự đồng thuận (hay ít nhất là không phản đối) của các cường quốc ngay sau Thế chiến II, từ đó tuyên bố thành lập Israel từ vùng đất mà từ sau Thế chiến I cho đến khi đó (1920-1948) vẫn được gọi là "British Mandate for Palestine" (Lãnh thổ Ủy trị Palestine thuộc Anh quốc, giành được từ tay đế quốc Ottoman). Trên vùng đất Palestine đó, những người Do Thái phục quốc vừa phải chống lại thực dân Anh vừa phải chống lại những người Hồi giáo Ả Rập. Số phận của vùng đất này sau Thế chiến II cũng còn tùy thuộc vào Liên Hợp Quốc, cụ thể là ý kiến của những cường quốc Mỹ và Liên Xô. Vào năm 1948 tràn đầy ‘ý Chúa’ đó, tình cờ mà Stalin tạm dừng bài Do Thái (khác trước và cả sau đó!!!), Truman hơi thiện cảm với Do Thái bất ngờ lên thay Roosevelt ghét Do Thái, người Anh chán nản với những vụ khủng bố của Do Thái nên cũng rút lui…tất cả tạo nên cơ may duy nhất cho dân tộc ‘được Chúa chọn’ này lần đầu tiên sau gần hai ngàn năm trở về đúng miền đất hứa của họ. Tất nhiên, họ còn phải chiến đấu thực sự và ‘đi trên dây’ trong gần ba mươi năm sau đó với nhiều chiến dịch quân sự, ngoại giao và cả khủng bố đẫm máu trong khu vực với nhiều kẻ thù Ả Rập (cụ thể là các quốc gia Ai Cập, Jordan, Syria, Iraq, Lebanon), tận dụng sự ủng hộ của các cường quốc thời hiện đại, thì mới mở rộng và giữ vững được lãnh thổ địa lý cũng như vị thế của họ trên thế giới như hiện nay. Đơn thuần xem “Israel là đồng minh và tay sai của Mỹ ở Trung Đông” là lối suy nghĩ đơn giản hóa quá mức một vấn đề …quá sức phức tạp về chính trị và lịch sử của quốc gia non trẻ này, và cuốn sách này đã cho chúng ta hiểu rõ điều đó. Như mọi ‘tiểu quốc’ thời hiện đại, số phận và vị thế của Israel không chỉ là kết quả của những nỗ lực của chính dân tộc Do Thái, mà còn do sự xô đẩy, bàn bạc, sắp xếp của những cường quốc qua thời gian – tất cả khiến cho câu chuyện Do Thái trong thế kỷ XX và XXI tiếp tục trở nên vô cùng huyền bí, sinh động và không hề dễ hiểu!

Cuốn sách ‘Lịch sử Do Thái’ có thể dùng như một sách tra cứu về nhiều mặt của người Do Thái và quốc gia Israel, dù nó không dễ đọc chút nào, do khối lượng thông tin ngồn ngộn mà tác giả Paul Johnson cung cấp. Sử dụng một bố cục ‘suôn đuột, thẳng tưng’, chỉ với 7 phần và không có thêm một chương hay tiểu mục nhỏ nào, lão sử gia đến từ thành Manchester khiến độc giả nhiều khi muốn ca bài ‘Hoang mang’ của Hồ Quỳnh Hương khi đọc – cá nhân tôi phải dừng lại hàng chục lần để ‘tiêu hóa’ bớt những phần đã đọc qua, đồng thời kè kè smartphone trên tay để tra cứu thêm trên google và Wikipedia trong rất nhiều trường hợp. Ngoài ra, khi nguyên tác trích các đoạn trong Cựu ước của Kinh Thánh, người dịch (hay biên tập) lại sử dụng các đoạn dịch trong bản dịch của LM Nguyễn Thế Thuấn, với lối phiên âm khác (ví dụ Yavê thay vì Yahweh, Yêrikhô thay vì Jericho, Yôsua thay vì Joshua, Môsê thay vì Moses, Ghêđêôn thay vì Gideon, Yêrusalem thay vì Jerusalem v.v…), khiến những kẻ ngoại đạo hơi khó dõi theo….

Dù còn đôi chỗ dịch chưa ổn, song đây là một cuốn sách hữu ích, tuy khó đọc, cho những ai quan tâm và muốn tìm hiểu về Do Thái Israel – dân tộc được Chúa chọn!

Thông tin chi tiết
Tác giả Paul Johnson
Năm phát hành 05-2020
Thể loại