Reviews 1

W.G.Sebald (1944-2001) là nhà văn Đức, sống và làm việc như một giáo sư văn học tại Anh. Thuộc thế hệ sau Thế chiến II, ông có lối viết văn khá lạ và độc đáo, như thể hiện trong tác phẩm này. “Ký ức lạc loài” được viết bằng tiếng Đức năm 1992, qua năm 1996 được Michael Hulse (1955) – một dịch giả và thi sĩ Anh – dịch ra Anh ngữ, với tựa là “The emigrants” (Những người di cư). Rất khó xếp cuốn sách này vào một thể loại truyền thống nào, vì nó gồm 4 “truyện vừa” (nếu xét theo độ dài: 2 truyện đầu tiên 30-50 trang, 2 truyện sau, hay hơn, mỗ truyện hơn 100 trang!), song lại nửa thực nửa “bịa” (nghĩa là gọi chúng là fiction hay non-fiction đều được!), ngoài ra văn bản lại là sự kết hợp giữa “chữ” và “hình ảnh”, với những bức ảnh đen trắng với độ phân giải thấp, dường như được tác giả “dụng công cài cắm” với ý nói tới sự nhạt nhòa, khi tỏ khi mờ của ký ức – đây là một nét rất riêng mà tôi chưa từng thấy trong tác phẩm nào….

Câu văn của Sebald nhìn chung dài (nghe đâu trong một tác phẩm khác của ông, cuốn tiểu thuyết cuối cùng mang tên 'Austerlitz' – mà Phanbook có “rao trước” là sẽ xuất bản – có một câu dài kỉ lục là … 7 trang rưỡi!), tất cả đều viết dưới dạng “câu gián tiếp”, nghĩa là không có những đoạn đối thoại hay “gạch đầu dòng” chi hết! Nghe qua thì coi mòi khó đọc – liên miên, lê thê v.v…., nhưng bản dịch “Ký ức lạc loài” của Đăng Thư đọc rất mượt mà, chỉ … không thể và cũng không nên đọc nhanh mà thôi. Đây là cuốn sách, theo tôi, dành cho người “sống chậm” hihi…

(đọc tiếp...)

Tựa đề trong nguyên tác rất giản dị và chán: Những người di cư. Quả thật, đây là 4 cuộc đời của 4 người Do Thái và gia đình họ, được kể lại qua ký ức của chính họ và những người khác – mỗi truyện đều có 2,3, thậm chí có khi 4 “người kể chuyện”, tạo ra những ký ức lồng trong ký ức, chuyện trong chuyện: A kể về chuyện của A, A hỏi B về C, B kể cho A nghe về C, rồi chính C (theo một cách nào đó – có thể là những tập nhật ký, những bức ảnh cũ, hay … những giấc mơ của A) cũng kể tiếp cho độc giả về mình v.v.. và v.v… Tác giả liên tục đổi “chủ ngữ” trong tác phẩm, lúc nào cũng là “tôi nhớ”, “hồi đó tôi…” song thực ra là có … nhiều “tôi” khác nhau đang kể cho ta nghe chuyện của họ.

Các câu chuyện lần lượt là:

Bác sĩ Henry Selwyn (sinh năm 1892), di cư theo gia đình lúc nhỏ từ Lithuania tới Anh, hồi đầu thế kỷ XX, học y ở Anh, cuộc sống trải qua các vùng khác nhau ở Thụy Sĩ, Ấn Độ, lấy vợ giàu ở Thụy Sĩ (ông ta giấu vợ nguồn gốc Do Thái của mình, sau này mới nói ra cho bà biết) sau chiến tranh Thế giới lần thứ 2 sống lặng lẽ và cô độc ở Anh, hai vợ chồng hết tình cảm với nhau, rồi thời gian sau ông buồn chán và tự sát bằng khẩu súng săn mình từng mua hồi trẻ ở Ấn Độ mà … chưa bao giờ xài.

Thầy giáo Paul Bereyter (sinh năm 1910), một người Đức có … một phần tư máu Do Thái, nên khi Quốc xã lên nắm quyền tại Đức ông bị cấm hành nghề, phải dạt qua Pháp làm gia sư, rồi lại quay về Đức đăng lính Quốc xã khi cuộc chiến đi vô hồi kết. Sau chiến tranh, Paul trở về nghề giáo (năm 1952, tác giả là học trò tiểu học của thầy Paul, với nhiều ký ức rất tươi trẻ và thú vị về một ông thầy vô thần, yêu trẻ, có phương pháp dạy rất khoa học); tới những năm 70 ông rơi vào chán chường, đi qua đi lại nhiều lần giữa Pháp và Đức, cuối cùng tự sát bằng cách lao vào tàu hỏa.

Ambros Adelwarth (1886-1953), một người Do Thái tại Đức, di cư qua Mỹ từ trước Thế chiến I, làm gia nhân rồi quản gia cho 1 gia đình Do Thái giàu có tại Mỹ, nhà Solomon. Những năm trước Thế chiến II, ông lại giúp những người cháu gọi ông bằng cậu tiếp tục rời nước Đức đang bài Do Thái sang Mỹ (tác giả gọi Ambros là ông cậu, người di cư đợt 1 của gia đình này; và những người di cư đợt 2 của nhà Adelwarth là ba chị em: dì Theres thợ may, dì Fini giáo viên, cậu Kasimir thợ kim khí; cả ba là anh chị của Rosa – mẹ của tác giả). Cuộc sống phong phú và bí ẩn của Ambros được kể lại và tìm hiểu bởi những mẩu ký ức rời rạc của con cháu ông, cũng như “di cảo” là những ghi chép của ông – sau khi ông qua đời tại một bệnh viện tâm thần tư nhân tại Mỹ, nơi ông già cô đơn Ambros … chủ động xin đến điều trị!

Họa sĩ Max Aurach (1925) – con trai của một gia đình bán tranh khá giả người Do Thái tại Đức. Năm 1939 ông được cha mẹ lo cho sang Anh học đại học, cũng là để trốn bóng ma Quốc xã đang lởn vởn trên đầu họ (bản thân cha mẹ ông đã không kịp trốn thoát, họ và nhiều đồng bào rốt cuộc đã kết thúc cuộc đời trong những lò thiêu người của phát xít Đức). Ký ức của Aurach, và xa hơn ký ức của bà mẹ ông là Luisa Lanzberg (trong cuốn sổ ghi chép của bà, mà Aurach đưa cho tác giả đọc) dựng lên cho độc giả những câu chuyện rất sống động về cuộc sống của cộng đồng Do Thái hạnh phúc tại Đức suốt từ cuối thế kỷ XIX cho đến những năm 30 của thế kỷ XX, và những biến động ghê gớm trên toàn châu Âu sau đó đã kết thúc tất cả…

Đọc sách, ta thấy “di cư” với người Việt có những ý nghĩa và sắc thái rất khác so với “những người di cư” trong cuốn sách này. Ta có thể cảm nhận được những cảnh trí, những hương vị của một châu Âu cách đây gần một thế kỷ, nó giống như một quốc gia đơn nhất, nơi người ta di chuyển qua lại, định cư và lập nghiệp một cách khá dễ dàng (có lẽ vì thế sau này các nước châu Âu trở thành một Liên minh châu Âu EU như hiện nay, sau khi chiến tranh lạnh đã qua!). Tuy nhiên, bất chấp cái tựa đề “Những người di cư” trong nguyên tác, Sebald muốn nói nhiều hơn tới 1 chủ đề khác, đó là ký ức và sự mất mát, từng phần hay toàn bộ, của ký ức (và do đó tôi thấy bản Việt ngữ có tựa đề “Ký ức lạc loài” là rất chuẩn, rất …thơ!). Tác giả không quan tâm lắm tới cốt truyện (như viết ở trên, 4 truyện này đều có cốt truyện khá lan man, dài dòng, nhiều nhân vật, không hẳn ai chính và ai phụ), mà chủ yếu là những dòng suy ngẫm, hoài vọng bất tận, cho ta thấy sự vô thường, phù du của cuộc đời này. Đọc sách, chúng ta hiểu hơn về một châu Âu – lục địa già – trong những cơn co giật điên cuồng của hai cuộc thế chiến, một nước Mỹ “Tân thế giới” trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, và phần nào là cả nước Anh thời hậu chiến (cụ thể là Manchester, trung tâm công nghiệp của quốc gia này), được nhìn từ ký ức của những con người bình thường, những gia đình lớn với các thành viên sống trên nhiều nước khác nhau, những số phận lửng lơ, mờ ảo và rồi sẽ chìm hết vào hư vô…

Vài đoạn văn tôi thấy hay:

…Các dãy nhà chốc chốc lại bị phân cách bằng các bãi đất hoang có những tòa nhà đổ nát, tôi thấy đó là điều hết sức thuận lợi, bởi vì kể từ khi được dịp ghé đến Munich một lần thì tôi không thấy có cái gì gắn liền với hai chữ ‘thành phố’ cụ thể cho bằng sự hiện diện của những đống gạch vụn, những bức tường cháy sém, và những ô cửa sổ thủng toác mà nhìn xuyên qua ta thấy được cả không gian trống rỗng…

(Trang 39, tả một thành phố tại Đức năm 1952, qua góc nhìn của một cậu bé từ quê mới lên tỉnh)

…và chỉ còn dì Theres trở lại khá là đều đặn, một phần là do độc thân, dì có khả năng làm điều đó hơn ai hết, , và một phần là do dì suốt đời mắc chứng bệnh hoài hương bất trị. Ba tuần sau khi dì về đến nơi, ghé thăm ai dì cũng vẫn khóc vì niềm vui đoàn tụ, và ba tuần trước khi ra đi dì cũng đã khóc vì nỗi đau ly biệt. Nếu dì ở nhà chúng tôi lâu hơn sáu tuần thì sẽ có một khoảng thời gian bình lặng ở giữa mà dì chủ yếu lấp đầy bằng công việc vá may; nhưng nếu dì ở lại ít ngày hơn thì nhiều khi ta thật sự không biết dì khóc là do rốt cuộc đã được về quê hay là do dì đã lo sợ phải ra đi trở lại…

(Trang 85, tả người dì của tác giả - bà Theres, Do Thái, di cư qua Mỹ từ những năm 1920 khi còn trẻ, sau chiến tranh mới có những dịp về Đức thăm họ hàng)

… Chắc là vì thế mà mỗi khi nhớ lại những ngày đầu ở Manchester, tôi hay có cảm tưởng cứ như cái máy pha trà do bà Irlam [… …] mang vào phòng tôi, cứ như cái máy kỳ cục và tiện lợi đó, với ánh hào quang ban đêm, tiếng sôi sục âm thầm buổi sáng, và chỉ bằng sự hiện diện của nó vào ban ngày, mà tôi bám víu được vào cõi sinh tồn những lúc tôi tưởng mình đã bị nhận chìm tận đáy cảm giác cô độc sâu xa …

(Trang 194, tả một khách sạn nhỏ tại Manchester năm 1966, nơi tác giả trú ngụ một thời gian, trong một thành phố buồn chán)

…Khi tôi hỏi Aurach liệu ông có nhớ gì về việc từ biệt cha mẹ ở phi trường không, Aurach trả lời sau một lúc ngần ngừ rất lâu, rằng khi ông nhớ lại buổi sáng tháng Năm ấy ở Oberwiesenfeld thì ông không hình dung được cha mẹ mình. Ông không còn nhớ lời cuối cùng mẹ ông hay cha ông nói với ông, hay ông nói với họ, là điều gì nữa, mà cũng không nhớ ông và cha mẹ có ôm chầm lấy nhau không. Ông vẫn có thể mường tượng được cảnh cha mẹ mình ngồi ở băng sau chiếc xe thuê trên đường đi tới Oberwiesenfeld, nhưng ông không sao nhớ được họ lúc ở ngay phi trường. Thế mà ông lại ghi nhớ rõ đến từng chi tiết cảnh phi trường Oberwiesenfeld, và suốt bao năm qua, lúc nào cũng vẫn có thể hình dung ra nó với sự chính xác đáng sợ….

(Trang 236, tả ký ức của Aurach khi 14, 15 tuổi và chia tay cha mẹ để rời nước Đức Quốc xã)

Tôi rất thích 'Ký Ức Lạc Loài'!

Thông tin chi tiết
Tác giả W.G.Sebald
Năm phát hành 09-2019