Giới thiệu sách
Được đóng góp bởi OBook Team

Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu

Hồi ký con gái Hoàng Hoa Thám (dịch từ nguyên bản viết tay bằng tiếng Pháp)

Hoàng Hoa Thám tức Đề Thám, một trong những gương mặt quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam trong cuộc xung  đột với Pháp, ông để lại một nguời con gái, Hoàng Thị Thế đã có một vận mệnh khác thường, cùng một người con trai sinh năm 1908, Hoàng Hoa Phồn, còn có tên Hoàng Bùi Phồn hay Hoàng Văn Vi, đã qua đời năm 1945.

Sinh ngày 31-3-1901 ở Phồn Xương, Hoàng Thế được hứa hôn với một người con của hoàng đế Trung Hoa lúc lên ba. Tháng 6 năm 1909, bà cùng mẹ bị người Pháp bắt. Lúc đầu được Bouchet nhận trông nom, sau giao cho nhà tư sản Nguyễn Hữu Thu ở Hải Phòng chăm sóc. Sau khi theo học trường Tây ở Bắc kỳ, bà bị đưa sang Pháp năm 1917 . Bà được Albert Sarraut (Toàn quyền Đông Dương) nhận làm con nuôi, và cho theo học ở trường nội trú Jeanne D’Arc  ở Biarritz. Bà lấy tên là Marie Beatrice Destham.

Năm 1925, học xong tú tài phần một, bà  được đưa về Việt Nam làm thủ thư ở Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Năm 1927, bà được đưa trở lại Pháp. Trở lại Paris, Albert Sarraut giới thiệu bà như là công chúa. Tổng thống nước Cộng hòa Paul Doumer, trở thành người cha đỡ đầu và cấp cho bà một khoản trợ cấp gây nên nhiều tranh cãi. Năm 1930, bà bắt đầu đóng phim. Vai diễn đầu tiên là vai một công chúa Trung Hoa tên là Li-Ti trong phim La Lettre (Bức thư) do hãng Paramout sản xuất tại Paris. Năm 1931 bà kết hôn với ông Robert Bourgès – người Pháp gốc Bỉ, sinh được một con trai là Jean Marie Bourgès (1935), bà tiếp tục có các vai diễn trong các phim  La donna Bianca (1931),  Le secret de l’émeraude (1935).

Năm 1940 bà ly hôn. Năm 1959, bà được Tổng thống Ngô Đình Diệm, người kế nhiệm vua Bảo  Đại, mời về Sài Gòn. Trong một chuyến công cán sang Paris, người em dâu của tổng thống, bà Ngô Đình Nhu, định thuyết phục bà trở về, nhưng không có kết quả.

Khoảng năm 1960-1961 Bà quyết định trở về Hà Nội với sự giúp đỡ của Phan Kế Toại, Phó Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, vì thấy đây là một lợi thế về chính trị với danh nghĩa Đề Thám.

Ban đầu bà về sống ở Hà Bắc. Năm 1974, bà về Hà Nội và sống tại phòng 31, khu tập thể Văn chương.

Kỷ niệm thời thơ ấu, được viết năm 1963 tại Hà Bắc (nay là Bắc Ninh và Bắc Giang). Đây là những dòng hồi ức chân thực về tuổi thơ về cuộc sóng gió của gia đình, đánh dấu những giai đoạn đấu tranh và trốn tránh trong núi rừng Yên Thế.

Reviews 2

VỀ NHẦM LẪN CỦA BÀ HOÀNG THỊ THẾ TRONG CUỐN “KỈ NIỆM THỜI THƠ ẤU”

Năm 1960, giã từ cuộc sống nhung lụa của nước Pháp, khước từ lời mời trở lại Sài Gòn của Madame Nhu – Trần Lệ Xuân, bà Hoàng Thị Thế trở lại Bắc Giang. Năm 1963, bà viết hồi ký “Kỉ niệm thời thơ ấu” lên một cuốn vở học trò khổ 16x23cm, cuốn vở được giao lại cho Thư viện Hà Bắc khi bà được đón về Hà Nội. Những dòng ký ức của con gái “Hùm thiêng Yên Thế” viết bằng tiếng Pháp, được nhà thơ Hoàng Cầm chuyển ngữ năm 1975, thấm đẫm tình cảm của người con xa xứ, một thân phận phiêu dạt từ thuở ấu thơ, trải qua biết bao năm tháng huy hoàng lẫn trầm luân, không nguôi hướng về cội gốc.

(đọc tiếp...)

Bà Hoàng Thị Thế là con gái của cụ Hoàng Hoa Thám với người vợ thứ ba, bà Đặng Thi Nhu - vị nữ tướng sát cánh cụ Hoàng bao năm. Năm 1909, khi bà mới 8 tuổi thì căn cứ Phồn Xương bị quân Pháp đánh tan. Thất tán cha mẹ, bà được đưa xuống Hải Phòng, sau được sang Pháp, may mắn trở thành con nuôi của Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut và Tổng thống Paul Doumer là người cha đỡ đầu của bà. Những ngày tháng ngắn ngủi ở Phồn Xương bên cha mẹ, các cậu, các bác, các anh… vẫn sống mãi trong lòng cho đến khi bà qua đời tại khu tập thể Văn Chương năm 1988.

Tập sách cho chúng ta một bức tranh khái quát về cuộc sống của đại gia đình cụ Thám tại căn cứ Phồn Xương, cũng như nhiều chi tiết độc đáo về cuộc kháng chiến của những người con Yên Thế chống lại nhà cầm quyền Pháp. Chúng ta ghi nhận tình cảm cao quý của bà qua từng trang sách. Ở đây, người viết xin mạo muội có đôi lời dưới góc độ của người đọc. Đó là cũng vì ghi lại theo trí nhớ hoặc qua lời kể của những người thân khác, và thiên hướng tình cảm đặc biệt dành cho những người thân đã đi xa, nên việc nhầm lẫn của bà Thế là không tránh khỏi.

Tôi chỉ xin được nói riêng về nhân vật “chú Cõn”, tức ông Hoàng Văn Cõn. Ông Cõn giữ một vị trí đặc biệt trong các hoạt động của nghĩa quân Yên Thế cũng như trong nhận thức của người dân địa phương. Bộ phim “Hoàng Hoa Thám” (1987) cũng đưa ông lên thành một nhân vật. Trong ký ức của bà Thế, “chú Cõn” là người Thanh Hóa, lánh nạn mà ra Bắc Giang, không còn cha mẹ, và chỉ kém Hoàng Hoa Thám 10 tuổi. Nhưng trong nhận thức của người dân địa phương, thì Hoàng Văn Cõn là con ông Hoàng Văn Toàn, ông Toàn người dạy võ cho nghĩa quân và cũng là chú ruột của Đề Thám. Hai cha con ông Cõn được xem là người địa phương và là những nghĩa quân tích cực. Người Pháp cũng ghi chép về hoạt động của ông Cõn, và cho biết khi ông ra hàng vào 5-12-1909 thì ông là người “còn trẻ”. “Mặc dù còn trẻ, song có vai trò ảnh hưởng thực sự đối với Đề Thám.”

Nếu quả Hoàng Hoa Thám sinh vào năm 1836 như Tiến sĩ Khổng Đức Thiêm đã nhận định, thì ông Cõn sẽ sinh vào khoảng 1846, theo lời bà Thế. Vậy năm 1909, khi ra hàng, ông Cõn sẽ khoảng 63 tuổi, không thể được coi là “còn trẻ” như trong hồ sơ của Pháp. Nếu cụ Thám sinh vào năm 1858 như lâu nay ta vẫn hình dung, thì năm 1909 ông Cõn cũng sẽ khoảng 41 tuổi, cũng không thể coi là còn trẻ. Vì 41 tuổi tức là còn hơn tuổi bà Ba Cẩn, Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh.

Trong bản danh sách các nghĩa quân ra hàng, người Pháp có nói qua về các điểm đặc biệt của từng nghĩa quân. Yếu tố “còn trẻ” được đưa vào những dòng thông tin ngắn ngủi của ông Cõn, đủ thấy sức nặng của yếu tố này, nó là đòn bẩy cho yếu tố khác mà người Pháp tập trung vào, đó là “có vai trò ảnh hưởng thực sự đối với Đề Thám”. Xem các ảnh được công bố - chắc chắn được chụp trong thời kỳ 1897-1908, hòa hoãn giữa Pháp và nghĩa quân - thì thấy ông Cõn khoảng 20-30 tuổi, trẻ hơn Đề Thám rất nhiều. Người Pháp thậm chí còn nhầm ông là cháu của Đề Thám do ông còn ít tuổi.

Ta có cơ sở để tin vào những ghi chép của người Pháp vì họ bắt buộc phải tìm hiểu kĩ lai lịch, hoạt động của từng nghĩa quân. Hãy xem cách họ cẩn thận ghi chú về từng người trong ảnh.

Vậy phải chăng có đến 2 nhân vật cùng là “chú Cõn”? Tôi xin mạo muội đưa ra giả định: bà Thế nhớ rõ về Hoàng Văn Cõn, nhưng lại nhầm lai lịch của ông với một nghĩa quân khác có xuất thân từ Thanh Hóa. Hãy xem danh sách nghĩa quân tham gia khởi nghĩa Yên Thế từ những ngày đầu do ông Đồng Văn Đạo dày công sưu tầm. https://mychautrth.wordpress.com/de-tham-hoang-hoa-tham-hum-thieng-yen-the/. Ta thấy có ít nhất 2 nghĩa quân từ Thanh Hóa ra Bắc tham chiến là Đốc Hậu và Cai Thanh. Theo lịch sử ghi nhận, cả của Việt Nam lẫn Pháp, thì Đốc Hậu và Cai Thanh đều là những tướng lĩnh chủ chốt dưới quyền Đề Thám, không khác gì “chú Cõn” trong hồi ức của bà Hoàng Thị Thế.

Phong trào Yên Thế gây tiếng vang lớn, thu hút những anh tài từ nhiều địa phương bên ngoài tỉnh Bắc Giang như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Nội, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Vĩnh Phúc … Đồn Phồn Xương trong giai đoạn 1897-1908 được xem như ngôi nhà lớn của những nghĩa sĩ chống Pháp, được những nhà nho yêu nước như cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh, Nguyễn Quyền… và cả những nhân sĩ ở Hà Nội tin tưởng hướng về. Nên thật dễ hiểu khi có một bộ phận nghĩa quân gốc Thanh Hóa xuất hiện ở căn cứ Đề Thám. “Chú Cõn” trong tập hồi ức hay trong chính sử cũng đều là một nghĩa quân quả cảm, không chịu phục tùng quyền lực của những kẻ xâm lược.

Cũng từ tập hồi ức của người con xa quê hơn nửa thế kỉ này, các nhà sử học mới có thêm gợi ý để xác định tính chất của Khởi nghĩa Yên Thế. Đó không hẳn là phong trào tự phát của những người dân cùng khổ, mà thực sự có gắn kết với tinh thần Cần Vương mà vua Hàm Nghi đã khơi dậy trong những năm đầu nước nhà rơi vào tay người Pháp.

Mình kỳ vọng quyển sách này nhiều lắm. Mình muốn ghé mắt nhìn vào một giai đoạn lịch sử hào hùng, nhìn thấy Hùm thiêng Yên Thế qua lời kể con gái người, nhưng khi cầm sách trên tay, mình cảm thấy hơi hụt hẫng vì nó mỏng quá. Đọc xong lại càng hẫng hơn, vì tất cả nội dung Hồi ký chỉ vỏn vẹn 110 trang (chắc còn ít hơn nữa, vì trong đó còn có những trang bỏ trắng để qua chương và hình minh hoạ), với gần 40 trang đầu là lời giới thiệu, 50 trang sau là lời bạt, phụ lục và hình ảnh.

Cuốn hồi ký này được viết khi bà Hoàng Thị Thế về già, ở Hà Nội. Có lẽ đó là tất cả những gì còn đọng lại trong bà sau mấy chục năm lưu lạc xứ người. Mình trân trọng công sức bà - một người có số mệnh đặc biệt - đã dành ra để viết nên những trang hồi ký mình đang cầm trên tay. Nội dung - đúng như lời giới thiệu - là tư liệu vô cùng quý giá. Tuy nhiên cách viết không gây hứng thú cho mình, bởi từng chi tiết và sự kiện được kể nối tiếp nhau, chuyện này xảy ra, rồi đến chuyện kia, nối tiếp chuyện nọ. Người này đã nói như thế này, người kia hỏi câu kia... và hết. Đôi lần mình có cảm tưởng những chi tiết được chỉ được liệt kê ra chứ không nhằm kết nối câu chuyện lại với nhau.

(đọc tiếp...)

3 sao vì giá trị nội dung chứ hình thức mình không ưng được gì cả.

Thông tin chi tiết
Tác giả Hoàng Thị Thế
Nhà xuất bản Nhà Xuất Bản Khoa học xã hội
Năm phát hành 12-2019
Công ty phát hành Omega Plus
ISBN 2499789222051
Kích thước 14 x 20.5 cm
Số trang 200
Giá bìa 85,000 đ
Thể loại