Reviews 1

Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, xét ở góc độ sành chữ, sành nghệ thuật, tôi đặc biệt ngưỡng mộ tài năng của nhà văn Nguyễn Tuân. Ông là một vị phù thủy khéo léo điều khiển ngôn từ. Chữ nghĩa hoá thành một đội binh răm rắp tuân theo sự ra lệnh của ông. Không chỉ ở những tác phẩm mang tính hiện thực cao mà kể cả ở những tác phẩm đầy chất ma mị, liêu trai như Chùa Đàn cũng thế.

Chùa Đàn được viết vào năm 1945. Tuy nhiên, sau khi Việt Minh giành được chính quyền tại Hà Nội, Nguyễn Tuân đã mau chóng giác ngộ Cách mạng và viết thêm phần đầu mang tên Dựng và phần kết mang tên Mưỡu cuối. Chính phần Dựng là nền móng để dẫn đến phần trọng tâm mà tài hoa của Nguyễn Tuân phát tiết trọn vẹn nhất: Phần Tâm sự của nước độc.

(đọc tiếp...)

Cuốn sách là lời bộc bạch, giãi bày, là tâm huyết, là sự cuồng say của nhà văn đối với nghệ thuật. Phần thêm ở đầu và cuối sau này cũng là một ngụ ý của tác giả để thể hiện đúng cấu trúc ba phần của ca trù. Ông đã thổi vào tác phẩm những kiến thức uyên bác về nghệ thuật hát theo lối ả đào, cây đàn đáy, chiếc trống chầu. Quá nhiều kiến thức về những loại nhạc cụ được liệt kê khéo léo khiến tôi ngưỡng vọng vô cùng. Đặc biệt, giọng văn luôn say mê, dồn dập ở những đoạn tả tiếng đàn, tiếng hát, tiếng trống hay dáng vẻ chìm đắm vào thế giới nghệ thuật của ba con người: Bá Nhỡ, Cô Tơ và Lĩnh Út. Ta say, ta đắm cùng thế giới mà Nguyễn Tuân vẽ nên qua những con chữ giàu tính gợi hình, gợi tả, chữ không còn là chữ bình thường, những ý nghĩa ngàn dặm của từ như ứ căng, mọng đầy muốn tuôn ra xối xả theo câu văn để ta uống lấy, chìm sâu trong chất rượu chữ say lòng "Tiếng hát mọc cánh, thăm thẳm trong trắng tinh khiết quá pha lê gọt. Cô đang gọi nước suối đá ngọt trào dâng lên. Tiếng phách trúc díu dan như cô đúc lại được muôn điệu của muôn giống chim. Có những tiếng tre đanh thép, sắt bén đến cái mực cắt đứt được sợi tóc nào vô tình bay qua khoảng nơi phách đang bốc cao vươn mình dựng dậy như vách thành". Con người thì say sưa, hòa mình vào nghệ thuật. Dường như thế gian có sụp đổ cũng không thể làm ba con người yêu nghệ thuật tỉnh dậy khỏi thế giới mà họ đang say.

Ở trong những tác phẩm của mình, Nguyễn Tuân luôn đào sâu, khai thác nét đẹp nghệ sĩ ở con người. Trong Chùa Đàn cũng thế. Ta bắt gặp ba con người tài hoa, nghệ sĩ. Đó là Cô Tơ với tiếng hát làm mê mẩn hồn người đến nỗi Bá Nhỡ phải lặn lội tìm cô khắp nơi rồi ba lần đến mời cô về hát. Bã Nhỡ học được những ngón đàn réo rắt, điêu luyện. Cậu Lãnh Út cũng tài hoa quá đỗi. Trong tiếng trống cậu đánh, Cô Tơ nghe ra "tiếng đổ nhào của ngói gạch vụn rời", rồi "Hình như tất cả những lâu đài cung điện của cuộc đời nhỡn tiền đều tan rã theo một cái roi quất xuống mặt da loài thú". Đàn và hát dìu dặt nhau mà lướt mà bổng. Họ chìm vào trận rượu của đêm nhạc.

Bá Nhỡ vì nghệ thuật mà nguyện hi sinh, để máu tứa, ruột nhũn, óc se sắt lại, để hồn lìa khỏi xác. Cái chết của nhân vật này, cũng như cái say sưa của anh ta trong lần đàn cuối cùng của cuộc đời như con tằm đang rút ruột nhả ra thứ tơ óng ánh nhất, thượng hạng nhất thế gian. Đó phải chăng chính là tâm nguyện của Nguyễn Tuân? Suốt đời vì nghệ thuật, nguyện cống hiến hết mình vì nghệ thuật?

Tác phẩm Chùa Đàn là một tinh tuý trong số những hạt ngọc mà Nguyễn Tuân để lại cho đời. Chữ sao mà hay, ý sao mà đậm đà. Tôi cũng sa vào trận rượu đời, rượu đàn cùng các nhân vật, hay rụng rời, sợ hãi trước những yếu tố tâm linh, ma quái mà nhà văn dựng nên. Đặc biệt, tác phẩm ngoài giữ nguyên phong cách nghệ thuật, sự tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân thì còn pha lẫn yếu tố liêu trai hấp dẫn, gợi sự tò mò vô cùng, đồng thời còn thắt chặt thêm yếu tố chính trị, tinh thần tự giác Cách mạng rất đáng quý.

Thông tin chi tiết
Tác giả Nguyễn Tuân
Năm phát hành 12-2019