Giới thiệu sách
Được đóng góp bởi OBook Team

Ba gã say luận đàm thế sự ra đời năm 1887, đúng thời điểm đất nước Nhật Bản đang đứng giữa ngã ba đường của lịch sử, loay hoay tìm đường hướng phát triển quốc gia: Phải lựa chọn chế độ chính trị như thế nào? Cần theo đuổi chính sách ngoại giao ra sao để có thể trở thành một cường quốc ở châu Á?

Là xác lập chủ nghĩa lý tưởng Tây phương, qua hình tượng chàng Thân sĩ Tây học, sống trong “khuê các tư tưởng”?

Là đi theo chủ nghĩa quốc quyền, qua hình tượng vị Hào kiệt, con người của hành động, thao thao bất tuyệt về mưu toan bành trướng Trung Hoa?

Hay là chủ nghĩa hiện thực với đường lối trung dung, tùy thời tiến thoái, như hình tượng vị Nam Hải tiên sinh?

Được cấu tứ dựa trên ý tưởng một cuộc luận đàm về chính trị giữa ba gã say, Ba gã say luận đàm thế sự đã chỉ ra những ưu nhược điểm của chủ nghĩa phương Tây, chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa quốc quyền, bành trướng, như một lời chỉ dẫn về con đường Nhật Bản nên đi và cũng được xem như điềm báo về sự thịnh suy của đế quốc Nhật Bản trong tương lai.

Với văn phong cổ kính, ngôn từ hàm súc, sử dụng nhiều điển tích Đông Tây kim cổ, cuốn sách đã khắc họa một bức tranh đa diện, nhiều màu sắc về lịch sử văn minh thời Minh Trị, về những vấn đề mà giới tinh hoa Nhật Bản đang đau đáu bận tâm. Tác phẩm được coi như một danh tác tiêu biểu cho văn minh thời Duy tân Minh Trị.

“Nói rằng nhiều vấn đề trọng đại của Nhật Bản hiện tại như hòa bình, tự do, phòng vệ, tiến bộ - bảo thủ, dân quyền - quốc quyền… được gói gọn trong Ba gã say luận đàm thế sự cũng không phải quá lời.” --- Kuwabara Takeo

Reviews 1

“Ba gã say luận đàm thế sự” tựa như một bài diễn văn của kẻ say rượu về lý thuyết chính trị được viết ra vào năm 1887 bởi Nakae Chomin. Quyển sách này chủ yếu xoay quanh các nghi vấn và nghị luận về tương lai của Nhật Bản và những kinh nghiệm rút ra được từ các nghiên cứu về lý thuyết chính trị phương Tây, đặc biệt là ở Pháp. Đồng thời, cuốn sách cũng là một phương thức khéo léo để tác giả tham gia vào lĩnh vực chính trị và báo chí tại Nhật Bản.

Trong quyển sách này, tác giả đã miêu tả một cuộc bàn luận giữa ba nhân vật: chàng Thân sĩ Tây học, vị Hào kiệt và Nam Hải tiên sinh. Trong hai người đầu tiên, Chomin có vẻ đồng cảm với chủ nghĩa lý tưởng Tây phương, sống trong “khuê các tư tưởng” của chàng Thân sĩ Tây học hơn là đi theo chủ nghĩa quốc quyền vị Hào kiệt. Tuy nhiên, cả hai nhân vật này đều không phải là tiếng nói của trí tuệ vĩ đại nhất trong cuốn sách; những ý tưởng thực sự độc đáo bao trùm những suy nghĩ của Chomin lề được nói bởi Nam Hải tiên sinh. Trong khi Chomin thể hiện rõ sự ngưỡng mộ đối với lý thuyết chính trị tự do của phương Tây thông qua chàng Thân sĩ Tây học và sự hiểu biết của ông về các lập luận của các lý thuyết truyền thống của Nhật Bản thông qua vị Hào Kiệt, thì qua Nam Hải tiên sinh, ông lại đóng góp ý tưởng quan trọng nhất của mình.

(đọc tiếp...)

Cấu trúc của quyển sách này luôn khiến cho các nhân vật trở thành những đối số độc lập nhằm cuối cùng đưa ra được một kết luận hoàn hảo và đúng với ý tác giả. Mặc dù phần lớn là tác giả Chomin cũng muốn đưa ra những luận đề khách quan nhất để đọc giả tự nhận định nhưng cũng không tránh được sự “chủ quan duy ý chí”. Chàng Thân sĩ Tây học mở đầu câu chuyện và dường như là luận bàn lâu nhất về hệ tư tưởng chính trị của chủ nghĩa hòa bình.

Anh ta giải thích rằng nếu Nhật Bản sử dụng vũ khí thì kẻ thù của họ cũng sẽ sử dụng công cụ tương tự để gây chiến. Tuy nhiên, nếu Nhật Bản không có vũ khí, kẻ thù có thể chiếm đất nước nhưng sẽ buộc phải chia sẻ nó với người Nhật. Đây có thể không phải là một tình huống lý tưởng cho người bản địa, nhưng, chàng Thân sĩ nói, những người có sức chịu đựng bền bỉ và những người không nghĩ ra biện pháp đối phó của riêng họ thì đây là một giải pháp lý tưởng. Điều này dựa trên nguyên tắc: bề ngoài có vẻ phi thực tế và dễ dàng bị đánh bại, có thể khiến kẻ thù của Nhật Bản giết chết người Nhật ngay cả khi họ chẳng có lợi ích gì để làm điều đó. Cho rằng lập luận về giải trừ vũ khí đơn phương này là một trong những điểm yếu nhất về tư tưởng của chàng Thân sĩ nên bản thân Chomin có lẽ đã xem đó là biện pháp bất khả thi. Có lẽ vì thế mà bài thuyết trình ấy bị tác giả thể hiện chút khinh thường tựa như một con đường quanh co khó áp dụng vào thực tế.

Tuy nhiên, lần thứ hai khi chàng Thân sĩ nói về chủ nghĩa hòa bình, anh ta đưa ra một cuộc tranh luận gần gũi hơn với quan điểm riêng của Chomin; Chomin thậm chí đã đánh dấu nó ở lề là một cuộc tranh luận tuyệt vời liên quan đến luật tự vệ. Trong đoạn văn tinh tế này, chàng Thân sĩ có lập trường táo bạo rằng các quốc gia không có quyền tự vệ. Theo ông, lý thuyết triết học cho tất cả sự phòng thủ chỉ là vì nguyên tắc “cuộc sống là quý giá nhất”. Nếu lấy chiến tranh để ngụy biện cho việc tự vệ quốc gia thì đó cũng chỉ là “đạo đức giả” của hòa bình.

Tuy nhiên, sự tinh tế trong lập luận của chàng Thân sĩ chính là sự phân biệt giữa tự vệ cá nhân và tự vệ quốc gia. Một cá nhân có thể biện minh cho hành động tự vệ của mình nếu anh ta không giết kẻ tấn công mình. Pháp luật hiện tại của Việt Nam cũng ghi nhận điều này là “Phòng vệ chính đáng” tức là tự vệ ở mức cần thiết với sự nguy hiểm đang phải đối mặt. Nhưng một quốc gia chỉ có thể sử dụng vũ khí chết chóc, như súng đạn, và không thể tự vệ mà không giết người khác. Rõ ràng, đây là hai khái niệm tự vệ khác nhau mà chàng Thân sĩ đã phân tích cực kỳ sâu sắc. Và anh ta cho rằng bạo lực ở vị thế của một quốc gia chính là phản công và không thể có khái niệm “phòng vệ chính đáng” cho trường hợp này được.

Sự miêu tả của chàng Thân sĩ về các tệ nạn chiến tranh cũng rất quan trọng đối với lập luận về chủ nghĩa hòa bình. Để ủng hộ lập luận của mình cho nền dân chủ, anh ca ngợi chính phủ của các nước phương Tây nổi tiếng là nguồn gốc của hòa bình, và coi chế độ quân chủ là nguồn gốc của bạo lực. Trong một chế độ quân chủ thì chủ quyền không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh và có thể tiếp tục thói quen hàng ngày của mình. Tuy nhiên, các công dân phải chịu những gánh nặng rất lớn, vì chính họ là những người thực sự chiến đấu, chết và trả tiền cho chiến tranh. Những lập luận cho chủ nghĩa hòa bình là khá mạnh nếu một người chấp nhận nền tảng đạo đức của họ. Tuy nhiên, phần lớn các cuộc tranh luận của chàng Thân sĩ, về một khái niệm tiến bộ rõ rệt của phương Tây, một trong những tiến hóa từ một dạng không hoàn hảo đến một hình thức thuần túy, trong nền chính trị bị lý tưởng hóa của nền dân chủ. Không chỉ lý thuyết của sự thay đổi xã hội này vô cùng hạn chế mà chàng Thân sĩ còn áp dụng nó không nhất quán. Các cuộc tranh luận của anh chàng về thời gian và sự tiến bộ vì lý do này mà trở yếu hơn nhiều so với những tranh luận về đạo đức. Có thể nói chàng Thân sĩ Tây học đại diện cho chủ nghĩa duy tâm của triết học.

Trong khi đó, vị Hào kiệt, một người ít nói hơn, dù sao thì cũng đóng một vai trò kép thú vị trong cuộc đối thoại này. Ông đại diện rõ ràng nhất cho hệ chính trị truyền thống samurai của Nhật Bản, nhưng ông cũng đại diện cho một chuỗi các lý thuyết chính trị châu Âu không được mô tả bởi chàng Thân sĩ. Đây là chính trị của chủ nghĩa hiện thực của người Viking (người thường liên quan đến các tác phẩm của Niccolo Machiavelli), trong đó sự sống còn và thịnh vượng (không phải là đạo đức) là mục tiêu duy nhất của chính trị. Điều này không có nghĩa là chủ nghĩa hiện thực không có vai trò trong chính quyền truyền thống của Nhật Bản, mà chỉ là những ý tưởng của vị Hào kiệt nên không hoàn toàn là tiếng nói đại diện cho cả nước Nhật như tác giả mong muốn.

Chủ nghĩa hiện thực của vị Hào kiệt cũng giống như các chủ nghĩa hiện thực khác, có thể được tìm thấy nhiều trong hai lập luận của Nam Hải tiên sinh và chàng Thân sĩ Tây học. Đầu tiên là họ mất trí; điều này ông khẳng định để đáp lại chủ nghĩa hòa bình của chàng Thân sĩ. Thứ hai là bỏ qua thế giới thực, và ở đây Chomin có vẻ đồng cảm hơn với vị Hào kiệt, người cho rằng kể từ khi chiến tranh tồn tại, các chính trị gia cần phải đối phó với nó nhiều hơn.

Từ đây, vị Hào kiệt xây dựng lập luận của mình, tập trung vào việc phản bác lại các yêu sách của chàng Thân sĩ. Bởi vì chiến tranh tồn tại nên vị Hào kiệt khẳng định rằng các quốc gia phải có quân đội. Tuy nhiên, quan trọng hơn, vị Hào kiệt không đồng ý với chàng Thân sĩ rằng chiến tranh là xấu. Nơi mà chàng Thân sĩ Tây học nhìn thấy nỗi đau thì vị Hào kiệt cho rằng ông ta cảm nhận được niềm vui bởi lẽ chiến tranh xây dựng lòng can đảm và thể hiện sự xuất sắc và do đó tự nó trở nên xuất sắc. Vị Hào kiệt thừa nhận rằng lập luận này là một sự lạc quan, nhưng nó thực sự là một mưu đồ. Tôi cảm thấy rằng vị Hào kiệt đã gạt đi phần lớn lập luận của chàng Thân sĩ đối với chủ nghĩa hòa bình bằng cách đơn giản tuyên bố chiến tranh tốt thay vì xấu. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là ảo ảnh, bởi vì trong khi vị Hào kiệt lập luận rằng chiến tranh là niềm vui của những người lính, ông không nói gì về tác động tài chính và tài sản thế chấp của mình đối với dân thường, điều vẫn có vẻ là vô cùng tiêu cực.

Sau đó, vị Hào kiệt tiếp tục lập luận để hoàn thành vai trò của mình trong cuộc đàm đạo, rằng Nhật Bản phải chinh phục một phần của một quốc gia khác, tốt nhất là một quốc gia lớn cụ thể ở Châu Phi hoặc Châu Á. Ở đây, tôi cảm nhận rằng một lần nữa dường như lời tranh biện của vị Hào kiệt đang len lỏi vào những ý tưởng ban đầu của Chomin. Vị Hào kiệt dường như đã cho chúng ta thấy rõ có hai loại người trên thế giới, hoặc ít nhất là ở bất kỳ quốc gia nào đang thay đổi nhanh chóng văn hóa của mình để mô phỏng nền tảng của một xã hội khác. Có những người yêu thích sự hoài cổ và những người yêu thích sự mới lạ, những người bảo thủ và tiến bộ,...

Cuối cùng là lời đàm luận của Nam Hải tiên sinh. Đầu tiên, ông thách thức quan niệm về sự tiến hóa của chàng Thân sĩ vì quá coi thường các sự kiện xấu, sau đó lập luận rằng đó là tầng lớp quý tộc thực sự phải được ủng hộ, vì quan sát cho thấy giới quý tộc dễ thành công. Mặc dù vậy, chính cuộc tranh luận này đã loại bỏ chàng Thân sĩ như một trò đùa.

Lập luận của Nam Hải tiên sinh chính là nơi mà tôi nghĩ rằng hầu hết chúng ta đều thấy suy nghĩ của riêng của Chomin. Các ý tưởng của vị tiên sinh khiến chúng ta cảm thấy như đang trong quá trình kiểm duyệt nhưng cũng có những ứng dụng thực tế rõ ràng, tạo thành một kết thúc mạnh mẽ cho cuộc đối thoại. Đầu tiên, ông lập luận rằng theo lý thuyết riêng của chàng Thân sĩ, các xã hội thay đổi dần dần, trải qua thời kỳ lập hiến giữa chế độ chuyên quyền và dân chủ. Để chuyển từ chế độ chuyên quyền sang chế độ dân chủ, ông nói, đó là sự vi phạm trật tự của nguyên tắc này. Ngoài ra, có những quyền được trao cho người dân bởi chủ quyền mà không nên chuyển đổi thành quyền tịch biên.

Nam Hải tiên sinh lập luận rằng con đường đến với nền dân chủ mà chàng Thân sĩ cho là tuyệt vời thực sự rất khó triển khai và rất lâu để làm được, có thể phải mất cả trăm năm. Nó cho thấy sự khác biệt và khó khăn giữa ý tưởng đối với hành động và hành động đối với ý tưởng. Nếu chàng Thân sĩ, hoặc bất kỳ nhà trí thức nào đưa ý tưởng dân chủ vào xã hội, điều này có thể dần dần dẫn đến một chuỗi các ý tưởng và hành động cho một xã hội dân chủ. Tuy nhiên, nếu những người trí thức thay vì lãnh đạo một cuộc cách mạng để tạo ra một xã hội dân chủ thì họ lại đang tham gia theo một cách thức không khác gì chủ nghĩa chuyên quyền về ý thức hệ và rõ ràng là họ đã trực tiếp ép buộc các ý tưởng chính trị của họ lên người khác.

Cả chàng Thân sĩ và vị Hào kiệt đều nắm giữ những ý tưởng cấp tiến, những ý thức hệ xuất phát từ sự lo lắng quá mức đối với các quốc gia hùng mạnh ở châu Âu. Không có lo lắng này nên Nam Hải tiên sinh thấy không cần một quân đội lớn hay thay đổi triệt để nền dân chủ hòa bình. Con đường cẩn trọng của cải cách nhỏ trong chính phủ của mình là tất cả những gì cần thiết để xây dựng một Nhật Bản vĩ đại. Trong vài trang cuối của cuốn sách, Chomin trình bày một tương lai vừa phải cho đất nước của mình. Đó là một tương lai dựa trên những thế mạnh của cả truyền thống chiến binh của Nhật Bản và phong trào tiến bộ mà chính Chomin đã đưa ra thông qua lời trình bày của Nam Hải tiên sinh. Vị tiên sinh ấy tựa như cơ quan ngôn luận cho những ý tưởng này - người thể hiện rõ nhất những đóng góp của tác giả Chomin cho lý thuyết chính trị Nhật Bản.

Thông tin chi tiết
Tác giả Nakae Chōmin
Dịch giả Võ Vương Ngọc Chân, Nguyễn Mạnh Sơn
Nhà xuất bản NXB Thế Giới
ISBN 8935235224001
Trọng lượng (gr) 200
Kích thước 14 x 20.5 cm
Số trang 164
Giá bìa 72,000 đ